Khoáng Variscite Từ Peru (Bản tin tháng 04/2013)

Variscite màu lục là khoáng dùng làm trang sức thường được biết nhiều nhất ở dạng kết hạch từ vùng Clay Canyon, Utah (W. E. Wilson, “Các địa danh có khoáng vật nổi tiếng: Mỏ khoáng variscite ở Clay Canyon, Fairfield, Utah”, Mineralogical Record, Vol. 41, No. 4, 2010, trang 321 – 349). Thời gian gần đây, khoáng variscite chất lượng quý được phát hiện tại quận Meekatharra, miền Tây Australia (phần GNI quyển G&G Spring 2007, trang 63 – 64).

 

Hình 1: Các viên variscite này mới được tìm thấy ở Peru. Viên cabochon hình giọt nước nặng 14,76 ct và viên oval nặng 9,81 ct. Quà tặng của J. Hyršl cho bộ sưu tập mẫu của GIA, số hiệu 38422 và 38423; ảnh chụp bởi Robert Weldon.

Năm 2009, mỏ khoáng variscite mới được phát hiện tại Peru. Ban đầu khoáng vật này được nghĩ là đá turquoise màu lục và vị trí tìm thấy nó không được tiết lộ. Vào đầu năm 2011, một lượng lớn đá thô được tung ra thị trường, chúng được cho là được khai thác từ vùng lân cận Yauli, 20 km về hướng đông của thành phố Huancavelica và cách ~200 km về phía đông nam của Lima. Vị trí địa chất tìm thấy khoáng vật này vẫn không được biết, nhưng khoáng variscite thường có nguồn gốc gần bề mặt vỏ trái đất từ sự tương tác giữa đá giàu Al với nguồn nước ngầm chứa phosphate. Đá thô của Peru thường hình thành ở dạng vỉa mạch hơn là dạng kết hạch và thường có màu lục nhạt hoặc lục xám (hình 1). Nó thường có các hốc rỗng, có thể dài đến 2 cm; điều này làm giảm giá trị mẫu đá. Tuy nhiên các viên cabochon này thì khá hấp dẫn. Một vài mẫu khoáng màu lục xám có cấu trúc lớp giống như trong agate – mã não (xem viên đá bên phải, hình 1). Vào thời điểm tháng 2 năm 2011, tại Lima, nhóm nghiên cứu chỉ thấy có khoảng dưới 100 kg đá thô được khai thác, tuy nhiên sau đó thì lượng khoáng vật này đã được khai thác ngày một nhiều hơn.

10 mẫu đá thô và sáu viên mài dạng cabochon (dài đến 4 cm) đã được thu thập và sử dụng nghiên cứu trong báo cáo này. Tất cả đều được xác định là khoáng variscite bằng phương pháp nhiễu xạ qua tia X, không chú ý đến phần màu sắc của chúng. Các đặc điểm ngọc học ghi nhận được từ các viên cabochon như sau: chiết suất điểm ¾ 1,55 – 1,56; tỷ trọng thủy tĩnh SG ¾ 2,12 – 2,23 (những viên có hốc rỗng sẽ có giá trị tỷ trọng thấp hơn); độ cứng Mohs ¾ 3½ – 4; vết vạch ¾ không màu; phát quang cực tím ¾ màu vàng lục yếu dưới chiếu xạ cực tím sóng dài và trơ dưới sóng ngắn; không quan sát thấy vạch phổ hấp thu dưới phổ kế cầm tay. Mặc dù các mẫu khoáng này không bị xử lý nhưng hợp chất polymer có thể đã được sử dụng để cải thiện độ bền và tăng tính tiện dụng cho loại khoáng variscite khi nó được gắn trên trang sức. (Công Ty TNHH Giám Định Rồng Vàng – SJC lược dịch theo Jaroslav Hyršl trong Gem News International, quyển G&G Fall 2011)