Các loại chalcedony chính (Bản tin tháng 07/2008)

Vì chalcedony quá đa dạng về cấu trúc và màu sắc nên các nhà ngọc đã chia thành nhiều loại để thị trường dễ nhận dạng. Nên nhớ, tất cả các loại đều có thành phần vật chất giống nhau. Chúng tôi chỉ đề cập đến một số loại phổ thông nhất.  

 Hình 5: Viên chrysoprase lục phớt vàng đẹp, mài dạng cabochon. Hình của Gems TV. 

Chrysoprase: Đá có độ trong cao, từ bán trong đến trong mờ. Màu đá chủ yếu là lục phớt vàng từ nhạt đến vừa, đây là một trong các màu đẹp nhất ở chalcedony (hình 5, 6). Đá ít có cấu trúc đặc biệt, những viên thành phẩm có kích thước nhỏ hơn nhiều so với đá thô nên thường có vẻ đồng nhất (hình 5). Chrysoprase có màu sắc và vẻ ngoài giống đá cẩm thạch, cho nên chúng có thể được dùng để thay thế cẩm thạch (jadeite). 

Prase: Đá cũng có màu lục như chrysoprase, nhưng chỉ khác về sắc và độ bão hòa. Đá cũng từ bán trong đến trong mờ, tuy nhiên màu thì không đẹp bằng chrysoprase vì màu tối hơn và không tươi bằng chrysoprase (hình 7). Dĩ nhiên là giá trị của nó phải thấp hơn chrysoprase. Prase cũng được dùng để thay thế đá cẩm thạch (jadeite) hay nephrite. 

Hình 6: Đá thô chrysoprase màu lục phớt vàng. Hình của Wikipedia. 

Hình 7: Đá thô prase màu lục xám. Hình của Australia Opal Mines. 

Chalcedony chrysocolla: Đá có độ trong suốt cao, từ bán trong đến trong mờ. Màu đá đẹp nhất là xanh nhạt tươi hoặc màu lục-xanh. Đặc biệt là màu đá này là do tạp chất đặc biệt bên trong (bao thể) gây nên. Các bao thể chrysocolla là khoáng vật chứa đồng có màu xanh dương phớt lục, nằm rải rác hoặc tụ thành từng đám bên trong chalcedony, chính chúng đã tạo màu cho loại đá này. Màu của đá này xanh hơn và ít lục hơn so với chrysoprase. 

Chalcedony sữa: Đá mang tên này là do đá có vẻ giống màu sữa. Đá cũng từ trong suốt đến trong mờ. Màu đá từ trắng đến gần không màu, những đá màu này ít được ưa chuộng nên nhiều khi chúng được tẩm các màu khác để dễ bán hơn.    

Hình 8: Hai viên cabochon chalcedony chrysocolla màu xanh phớt lục vừa rất đẹp. Hình của Eric Welch, GIA.  

 

Hình 9: Đá thô chalcedony sữa có dạng kết tinh kiểu chùm nho. Hình của Carnegie Mellon. 

Carnelian: Đá từ bán trong đến trong mờ, không có hay có cấu trúc không nổi bật. Đá có tông màu nóng của đỏ và cam như màu cam-vàng đến đỏ phớt cam, đỏ phớt nâu hoặc cam phớt nâu (hình 10). Những đá màu này nếu độ trong cao nhìn dễ bị nhầm với đá opal lửa (đá này trong hơn carnelian). Các màu đỏ, cam của chúng không mạnh bằng các đá đơn khoáng.  

Sard: Đá có tông màu và độ trong giống như carnelian, tuy nhiên sắc thì tối hơn và màu nhạt hơn carnelian. Đá chủ yếu có màu đỏ phớt nâu đến nâu sẫm, cam sẫm. Đá không đẹp bằng carnelian.  

Hình 10: Các viên đá thô carnelian màu cam phớt nâu. Hình của Safe Jewelry.  

Hình 11: Viên đá thô sard màu cam xám nhạt. Hình của Dkimages. 

Agate: Tên gọi đá không phân biệt theo màu mà phân biệt theo cấu trúc. Đá từ bán trong đến chắn sáng. Đá gồm những lớp dày mỏng, màu sắc và độ trong có thể khác nhau, nhưng điểm quan trọng là các lớp này phải có dạng uốn cong hoặc góc cạnh. Nhìn ở dạng đá thô và to thì dễ thấy cấu trúc này. Nếu agate đem mài thành những viên nhỏ thì có thể có một tên gọi khác vì không còn cấu trúc đặc trưng. Sự phân bố của các lớp hết sức khác biệt ở từng viên đá, khối đá, làm cho agate có vẻ đẹp lạ lùng của những hoa văn đặc biệt. 

Onyx: Tên gọi đá cũng theo cấu trúc. Đá từ bán trong đến chắn sáng. Đá gồm những lớp song song thẳng hay hơi uốn dợn nhưng không cong nhiều hoặc thành dạng vòng tròn đồng tâm như agate. Các lớp này dày mỏng, màu sắc, độ trong có thể khác nhau. Đôi khi thị trường lại cần gọi tên chi tiết hơn về onyx, nên họ lại phân biệt thành onyx carnelian hay onyx sard. 

Hình 12: Hốc đá agate, gồm những lớp đá uống cong và góc cạnh, mỗi lớp có một vẻ riêng. Hình của Andre Du Plessis.  

Hình 13: Viên đá thô onyx, gồm các lớp đá song song thẳng hoặc hơi uốn dợn. Hình của Wikipedia. 

Onyx sard: Đá có cấu trúc của onyx và màu của sard. Đôi khi còn có thêm những lớp đen và trắng xen kẻ. Thí dụ viên đá ở hình 13 có thể gọi là onyx sard vì có dạng lớp song song thẳng và màu nâu ít bão hòa, có các lớp đen và trắng.  

Hình 14:  Các viên onyx carnelian có màu cam phớt đỏ đẹp và có dạng lớp song song, đôi khi có lớp màu trắng. Hình của Little Appleton.  

Onyx carnelian: Đây là tên ghép của onyx và carnelian. Như vậy đá sẽ có cấu trúc lớp song song thẳng của onyx và có màu của carnelian (hình 14). Đôi khi còn có thêm những lớp đen và trắng xen kẻ. Onyx carnelian trong hình 14 là loại đẹp vì toàn màu cam, đỏ hoặc trắng, không có lớp đen, chúng có giá trị hơn onyx sard vì màu đẹp và tươi hơn. 

Hình 15: Viên đá chalcedony đốm đỏ được mài thành dạng tấm dẹp. Chú ý nền màu lục sẫm và các đốm đỏ là tạp chất. Hình của Terri Weimer, GIA.  

Hình 16: Viên đá thô agate rêu có màu nền trắng, và các tạp chất màu lục đậm giống như rêu mọc trên đá. Hình của Wikipedia. 

Chalcedony đốm đỏ: Thị trường còn gọi là đá máu hay heliotrope. Tên gọi của đá là do tạp chất trong đá đặc biệt. Đá từ bán trong đến chắn sáng. Màu nền của đá là lục sẫm, đến lục đen. Tạp chất  đặc biệt là những đốm tròn màu đỏ đến nâu đỏ, phân bố riêng lẻ hay kết theo dạng chùm nho. Nhìn vào đá nền sẫm màu, thấy các vết đỏ như máu (hình 15). 

Agate rêu: Tên đá cũng dựa vào dạng tạp chất đặc biệt. Các tạp chất trong đá là những đốm màu lục, màu đen hay nâu phân bố rải rác hoặc tụ lại, nhìn giống như rêu mọc trên đá (hình 16). Đá từ bán trong đến chắn sáng. 

Agate nhánh cây: Tên đá dựa vào tạp chất đặc biệt. Là đá agate, có các tạp chất màu sẫm phân bố theo hình giống nhánh cây (hình 17). Đá từ bán trong đến chắn sáng. 

Hình 17: Viên đá agate nhánh cây. Các tạp chất sẫm màu phân bố theo hình nhánh cây. Hình của Andre Du Plessis.  

Hình 18: Sự phân bố các lớp đá và tạp chất tạo nên phong cảnh trong đá agate. Hình của Bob’s Rock Shop. 

Agate phong cảnh: Sự phân bố các lớp đá hay các tạp chất trong đá tạo nên một cảnh vật đặc biệt giống như trong thiên nhiên. Đá từ bán trong đến chắn sáng. Những đá có vẻ thế này dù nhỏ hay lớn thường được mài làm sao để giữ được hết những cảnh vật ấy, rồi dùng làm trang sức hay trang trí.  

Hình 19: Đá thô agate tán sắc. Chú ý các lớp tán sắc màu xanh da trời sáng lên. Hình của Carol J. Bova.  

Hình 20: Đá thô agate lửa. Phần tán sắc phân bố theo từng vùng nhỏ như các đốm lửa.  Hình của Anre Du Plessis. 

Agate tán sắc: Đá từ bán trong đến trong mờ. Tên đá dựa vào hiệu ứng tán sắc tạo màu cầu vồng theo từng lớp (hình 19). 

Agate lửa: Đá từ bán trong đến chắn sáng. Đá nền thường có màu nâu đến nâu sẫm. Trên mặt có hiệu ứng tán sắc màu cầu vồng thường theo cấu trúc chùm nho hoặc theo vùng, theo đốm (hình 20). 

Hình 21: Các viên chalcedony trên đây có thể gọi là jasper. Hình của Colored Stones. 

Jasper: Đá từ bán trong đến chắn sáng. Đây là loại chalcedony có cấu trúc bất kỳ (hình 21), không giống bất cứ loại nào đã nêu trên nên không thể gọi theo những tên ấy, vì vậy ta gọi chúng là jasper. 

Chalcedony thường có các dạng lớp và các cấu trúc đặc biệt, nên nhiều người hay dùng từ agate để gọi tên loại đá này với những đặc tính đính kèm như ta thấy ở trên, tuy nhiên chúng ta nên dựa vào các định nghĩa của các loại. Thật sự để gọi tên chính xác loại chalcedony thì người phân loại phải có chút kinh nghiệm. Nếu thật sự bạn bối rối với việc gọi tên, có thể dùng duy nhất tên chalcedony vẫn đúng.