|
HACKMANITE/SODALITE TỪ MYANMAR VÀ AFGHANISTAN (Bản tin tháng 08/2009)
Khái
quát:
Trong những năm gần
đây, một lượng đáng kể hacmanite/sodalite chất lượng quí – một số
viên có độ trong suốt cao – xuất xứ từ vùng Mogok của Myanmar và tỉnh
Badakhshan, Afghanistan đã có mặt trên thị trường. Những mẫu đá từ hai
quốc gia này có nhiều màu sắc khác nhau. Đá của Myanmar thường có nhiều
tạp chất hơn và phát huỳnh quang, lân quang yếu hơn những viên đá từ
Afghanistan. Phổ EDXRF – phổ huỳnh quang tia X phân tán năng lượng -
cho thấy có dấu vết của lưu huỳnh (S) trong tất cả các mẫu. Sự biến đổi
màu của nhiều viên đá từ hai vùng trên đủ mạnh để xếp chúng vào nhóm
hackmanite.
Hackmanite
[Na8Al6Si6O24(Cl2,S)]
là một biến thể chứa lưu huỳnh của khoáng sodalite [Na8Al6Si6O24Cl2].
Các chuyên viên ngọc học phân biệt chủ yếu dựa vào sự đổi màu của nó –
đó là khả năng chuyển đổi màu khi đá chịu tác động của ánh sáng (ví dụ
ánh sáng trắng hoặc chiếu tia cực tím; theo tin của Học Viện Đá Quý Đức
– Nhật, 2008). Điều thú vị là không có một định nghĩa cố định nào về đá
hackmanite. Một số tài liệu cho rằng hackmanite là sodalite
chứa lưu huỳnh có phát huỳnh quang (theo Jackson, 1997), trạng
thái hóa trị của lưu huỳnh có thể là nhân tố quyết định đặc
tính này. Những nguồn tài liệu khác thì cho rằng màu của
hackmanite có thể đậm hoặc nhạt khi để trong tối hàng ngày hay
hàng tháng tùy vào nguốn gốc khoáng vật (theo Webster, 1994;
Hainschwang, 2007; Tunzi và Pearson, 2008). Trong hầu hết các
trường hợp, khoáng vật sẽ chuyển từ hồng sang đỏ tía/tím khi
bị chiếu cực tím và sẽ nhạt màu đi dưới ánh sáng mặt trời
hay nguồn sáng trắng nhân tạo. Ngược lại khi bị nung nhiệt đến
trên 500oC thì độ nhạy đối với tia cực tím của
hackmanite bị phá hủy và lúc này đá sẽ ở trong trạng thái
tẩy màu (màu của đá bị nhạt hơn so với màu nguyên thủy; theo
Medved, 1954; Kirk, 1955).
Hackmanite thường
được thấy dưới dạng tinh đám từ trong mờ đến đục, chúng
thường mọc xen với các khoáng khác, đặc biệt là sodalite không
biến màu. Cho đến gần đây những mẫu hackmanite mài giác trong
suốt, rất hiếm gặp đã xuất hiện. Trước đây hackmanite chỉ được
biết đến là từ Canada (Mont Saint-Hilaire, Quebec và Bancroft,
Ontario); hay ở Magnet Cove, Arkansas; Libertyville, New Jersey; Minas
Gerais, Brazil; Kola Peninsula, Nga và Greenland. Gần đây, nó còn
được biết đến từ vùng Mogok, Myanmar và ở tỉnh Badakhshan,
Afghanistan (theo Johnson và Koivula, 1998; Moore, 2001, 2002; Liu và
những người khác, 2004; Học Viện Đá Quý Đức-Nhật, 2008; Tunzi
và Pearson, 2008).
Vào tháng 4 năm
2007, nhà buôn đá quý Hussain Rezayee đã cung cấp thêm thông tin cho tác
giả về đá hackmanite/sodalite từ Myanmar, ở Pyang Gyi cách Mogok
11 km về phía Đông, gần Pein Pyit. Việc sản xuất bắt đầu từ năm giữa
2003 với đá có chất lượng thấp. Nhưng đến đầu năm 2007, theo ông
Rezayee, hàng tháng có khoảng 2.000 carat (ct) đá được cắt mài dạng
cabochon và mài giác với nhiều kích cỡ khác nhau. Ông cho chúng tôi mượn
vài viên dạng cabochon của Myanmar để nghiên cứu. Nhà buôn đá ở Bangkok,
ông G. Scott Davies cũng đã tặng cho GIA một viên hackmanite Myanmar,
dạng mài giác.
|
|
Màu sau
khi làm nhạt |
Màu sau khi chiếu tia UV |
UV sóng dài |
|
Mẫu 1
Myanmar |
 |
 |
 |
|
Mẫu 6,4
&2
Myanmar |
 |
 |
 |
|
Mẫu
16,15,14,11,12 &13 Afghanistan |
 |
 |
 |
|
Mẫu 7,8,9
& 10 Afghanistan |
 |
 |
 |
Hình 1: Những mẫu
hackmanite/sodalite từ Myanmar và Afgha được nghiên cứu cho thấy trạng
thái giảm bão hòa màu của chúng, sau khi chiếu tia UV sóng ngắn và trong
suốt thời gian chiếu tia sóng dài. Trọng lượng mẫu vật xem ở bảng 1.
Hình của Robert Weldon.
Ông Rezayee cũng đã
cho chúng tôi mượn những mẫu hackmanite/sodalite được cắt mài ở
Badakhshan từ năm 2002. Những mẫu này có bề ngoài khá giống với những
viên đá từ Myanmar, mặc dù có một vài viên trong suốt. Theo ông Rezayee
thì những viên đá được mài giác chứa ít tạp chất này có viên nặng đến
18 ct là khoáng vật từ Afghanistan. Ông đã cắt mài được khoảng 1.000 ct
đá hackmanite/sodalite Afghanistan dạng mài giác và 10.000 ct
dạng cabochon (có viên nặng đến ~40 ct).
Những viên đá thô từ
cả hai vùng này thường được xử lý ép dầu để cải thiện độ trong. Theo ông
Davies và F. Hashmi (2008), một số lại được xử lý ép dầu sau khi đã cắt
mài và đánh bóng. Do việc cắt mài các viên đá thô đã xử lý ép dầu trước
thường sẽ làm xuất hiện lại những vết nứt đã được cải thiện nên những
viên như thế lại phải đem xử lý ép dầu để che lấp các vết nứt đó và làm
cải thiện độ sạch bên ngoài.
NHỮNG KHOÁNG VẬT VÀ
PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu trên 06
mẫu từ Myanmar (01 viên cắt hình nệm nặng 0,64 ct và 05 viên
dạng cabochon, trọng lượng từ 20,23 đến 56,20 ct) và 10 viên từ
Afghanistan (06 viên mài giác, trọng lượng từ 0,44 – 4,83 ct và 04
viên mài dạng cabochon từ 5,92 – 29,94 ct), tất cả đều được cho
là hackmanite (hình 1). Màu của các mẫu đá được đánh giá trong
hộp đèn Gretag Macbeth Judge II sử dụng đèn phát huỳnh quang
tương đương ánh sáng ban ngày D65. Để đánh giá sự đổi màu,
chúng tôi nghiên cứu những viên đá sau khi chúng được làm nhạt
màu bằng cách chiếu đèn nóng dùng trong nhà thông thường với
công suất 100 watt hoặc đèn huỳnh quang tương đương ánh sáng ban
ngày công suất 4,5 watt. Ngay sau đó chúng được làm đậm màu lên
bằng cách chiếu xạ cực tím sóng ngắn (dùng bóng đèn 4 watt).
Thường thì cần chiếu ánh sáng trắng lên những mẫu này trong
khoảng thời gian vài giờ đến hơn 1 ngày để có được màu nhạt
nhất, trong khi đó thì chỉ cần vài phút để làm đậm màu viên
đá bằng đèn cực tím sóng ngắn. Sau đó chúng được để trong tối
ít nhất là 03 tuần, chúng tôi nhận thấy rằng ở những mẫu số
1, 2, 4 và 15 sẽ có sự biến đổi màu nhiều nhất khi so sánh
màu ở giai đoạn đầu của hai trạng thái màu.
Các mẫu được kiểm
tra các đặc tính ngọc học cơ bản cũng như xem xét bằng phổ Raman,
phổ kế hồng ngoại biến hình fourier (FTIR) và phổ EDXRF. Để so
sánh, chúng tôi cũng đã mô tả đặc điểm khi xem qua phổ FTIR và
EDXRF của 03 viên sodalite màu xanh, trong suốt không rõ xuất xứ,
từ bộ sưu tập tham khảo của học viện GIA ở New York. Phổ
UV-Vis-NIR (phổ cực tím - thấy được – gần hồng ngoại) được tiến
hành trên 15 mẫu đá từ Myanmar và Afghanistan có độ trong vừa
phải đủ để có thể dùng phổ kế tia đôi quét từ mức năng lượng
900 đến 200 nm; thu được phổ của 13 trong số 15 mẫu này ở cả
hai trạng thái nhạt màu và trạng thái dưới bức xạ cực tím.
NHỮNG KẾT QUẢ VÀ THẢO
LUẬN
Những đặc điểm ngọc
học cơ bản và sự thay đổi màu trên tất cả các mẫu hackmanite/sodalite
ở Myanmar và Afghanistan được tổng hợp trong bảng 1. Chiếu cực tím sóng
ngắn trong vài phút sẽ thấy được sự thay đổi màu của 15 trong số 16
viên: 8 viên thay
Bảng 1: Những đặc điểm của 16 mẫu hackmanite/sodalite từ Myanmar và
Afhanistan.a
|
Nguồn |
Mẫu |
Dạng cắt |
Độ trong |
Trọng lượng
(ct) |
Chiết suất |
Tỷ
trọng |
Màu sau khi
làm nhạt (ánh sáng trắng) |
Màu
sau khi chiếu tia UV |
Sự
đổi màu |
Tên |
|
Myanmar |
1 |
Nệm
mài giác |
Trong |
0,64 |
1,479 |
2,26 |
Tím
phớt xám nhạt |
Tím
vừa |
Mạnh |
Hackmanite |
|
|
2 |
Oval cabochon |
Trong mờ |
24,83 |
1,47 |
2,29 |
Tía
rất nhạt |
Tía
vừa đến đậm |
Mạnh |
Hackmanite |
|
|
3 |
Oval cabochon |
Trong mờ -bán đục |
56,20 |
1,47 |
2,29 |
Xanh không đổi ; tía nhạt hơn và tím hơn |
Tía
vừa đến đậm về phía xanh |
Yếu |
Hackmanite |
|
|
4 |
Oval cabochon |
Trong mờ -bán đục |
20,23 |
1,47 |
2,44 |
Tía
phớt hồng nhạt đến vừa ; những chỗ gần không màu không đổi |
Tía
vừa và gần không màu |
Mạnh |
Hackmanite |
|
|
5 |
Hạt dưa
cabochon |
Trong mờ |
23,77 |
1,47 |
2,29 |
Tía
vừa với sắc tím |
Tía
đậm đến tím |
Yếu |
Hackmanite |
|
|
6 |
Tam giác
cabochon |
Trong mờ |
22,26 |
1,47 |
2,30 |
Tím vừa |
Tím
đậm |
Vừa |
Hackmanite |
|
Afghan |
7 |
Giọt nước
cabochon |
Bán
đục |
29,94 |
1,45 |
2,28 |
Tía
vừa với chỗ tía rất đậm |
Tía
đậm |
Rất
yếu |
Sodalite |
|
|
8 |
Giọt nước
cabochon |
Trong mờ |
16,97 |
1,45 |
2,30 |
Tía nhạt |
Tía
nhạt |
Yếu |
Hackmanite |
|
|
9 |
Oval cabochon |
Trong mờ |
12,39 |
1,45 |
2,30 |
Tím nhạt |
Tím
vừa |
Yếu |
Hackmanite |
|
|
10 |
Tam giác
cabochon |
Trong |
5,92 |
1,46 |
2,30 |
Gần không màu |
Tím
rất nhạt |
Rất
yếu |
Sodalite |
|
|
11 |
Oval mài giác |
Trong |
4,83 |
1,48 |
2,31 |
Xanh rất nhạt |
Xanh rất nhạt |
Không |
Sodalite |
|
|
12 |
Nệm mài giác |
Trong |
4,25 |
1,48 |
2,31 |
Xanh phớt lục phớt xám rất nhạt |
Xanh phớt lục phớt xám rất nhạt |
Rất
yếu |
Sodalite |
|
|
13 |
Oval mài giác |
Trong |
3,34 |
1,48 |
2,31 |
Xanh phớt tím rất nhạt |
Tím
phớt xanh nhạt |
Vừa |
Hackmanite |
|
|
14 |
Oval mài giác |
Trong |
2,59 |
1,48 |
2,31 |
Tím rất nhạt |
Tím
nhạt |
Vừa |
Hackmanite |
|
|
15 |
Oval mài giác |
Trong |
1,45 |
1,48 |
2,31 |
Tía phớt hồng
vừa |
Tía
đậm vừa |
Mạnh |
Hackmanite |
|
|
16 |
Oval mài giác |
Trong |
0,44 |
1,48 |
2,31 |
Hồng rất nhạt |
Tía
nhạt |
Vừa |
Hackmanite |
|
a
Các
trạng thái màu được miêu tả ở trên được đánh giá sau khi làm
nhạt bằng đèn nóng sáng 100 watt trong nhiều giờ hoặc lâu hơn ở
một khoảng cách xấp xỉ 15 cm (06 inch) và làm đậm màu khi chiếu
bằng đèn UV sóng ngắn thông thường trong vài phút. |
đổi vừa đến mạnh, 4
viên thay đổi yếu và 4 viên rất yếu hoặc không thay đổi. Mục đích của
nghiên cứu này nhằm xác định những viên đổi màu từ yếu đến mạnh là
hackmanite và những viên không hoặc đổi màu rất yếu là sodalite. Trong
hình 1 ta sẽ thấy rõ hiệu ứng đổi
màu của
đá qua các trạng thái: nhạt màu, chiếu cực tím và phát huỳnh quang.
Những viên đá này phản ứng nhanh hơn nhiều khi chiếu cực tím và ánh sáng
trắng; phản ứng chậm hơn khi được giữ trong tối. Đèn huỳnh quang tương
ứng ánh sáng ban ngày cũng cho hiệu quả làm nhạt màu nhanh như khi dùng
đèn nóng sáng.
Nói chung có sự thay
đổi nhanh chóng và rõ rệt ở mẫu 1, 2, 4 (đá từ Myanmar) và mẫu 15 (đá từ
Afghanistan) từ màu tía nhạt hoặc tím sang tía vừa – đậm hoặc tím trong
vài giây chiếu xạ cực tím. Nhiều mẫu đá từ Afghanistan cho thấy sự đổi
vừa khi đá được làm đậm sang màu tía vừa hoặc tím. Mẫu số 4 (đá của
Myanmar) có sự đổi màu không đều: có một dải rộng màu trắng cắt ngang
qua một phần viên đá (không thấy trong hình 1), điều này cho thấy không
có sự thay đổi mặc dù vài chỗ ở rìa viên đá có sự đổi màu mạnh. Nơi
không đổi màu được cho là nepheline khi phân tích Raman. Sự có mặt của
nepheline trong đá đã giải thích lý do tỷ trọng cao khác thường của nó
(2,44) so với khoảng giới hạn tỷ trọng của sodalite/hackmanite
(2,15 – 2,35); đối với nepheline, giá trị tỷ trọng từ 2,55 – 2,65 (theo
Webster 1994).
Bốn mẫu này được giữ
trong tối ít nhất 3 tuần thì thấy không có sự đổi màu từ trạng thái bị
nhạt màu của chúng (được tạo ra bằng cách chiếu đèn nóng sáng 1 ngày),
ngoại trừ ở mẫu 15 có trở nên hơi nhạt hơn một chút, điều này cũng cho
thấy rằng trạng thái màu ban đầu của chúng là không hoàn toàn bị nhạt.
Sau khi màu của những mẫu này được làm đậm nhờ chiếu UV sóng ngắn trong
vài phút rồi giữ trong tối ít nhất 3 tuần, ta sẽ thấy màu của chúng cũng
chuyển sang hơi nhạt hơn một chút.
|
 |
 |
|
Hình
2: Những bao thể tinh thể có trong vài mẫu
hackmanite/sodalite Myanmar (trái – mẫu 4 thị trường ~ 4,8;
phải – mẫu 1 thị trường ~ 3,3 mm). Ảnh chụp hiển vi của D.
Kondo |
Ngoại trừ mẫu 4, còn
lại tất cả các mẫu đá đều có tính chất vật lý phù hợp với đá sodalite và
hackmanite. Thông thường những mẫu đá từ Myanmar có nhiều khe nứt, đốm
màu trắng không đều và những bao thể tinh thể trong suốt (hình 2). Phân
tích Raman xác định các tinh thể trong suốt trong mẫu 3 là pyroxen và
trong mẫu 5 là mica, trong những mẫu khác không xác định được là loại
gì. Những mẫu đá từ Afghanistan trong nghiên cứu này phần lớn thì màu ít
đậm, ít tạp chất và trong hơn các mẫu đá từ Myanmar. Chúng thường có
các mặt “mây dạng vân tay” (hình 3, bên trái), các tinh thể từ
trong suốt đến hơi trắng (hình 3, ở giữa), những dãy bao thể
mỏng đan chéo nhau như đan vải (cross-hatched; hình 3, bên phải)
và những khe nứt chứa khoáng vật lạ hơi trắng.
|
 |
 |
 |
|
Hình
3: Những đặc điểm bên trong đặc trưng được quan sát ở
hackmanite/sodalite Afghan, bao gồm mây dạng vân tay lớn
(trái; mẫu 13), nhiều tinh thể trong suốt (giữa; mẫu
11) và vài dãy mây mỏng đan chéo nhau như đan vải
(phải; mẫu 12). Thị trường theo thứ tự: trái
~
6,8 mm; giữa:
~
3,1 mm; phải:
~
4,9 mm. Ảnh chụp hiển vi của D. Kondo. |
Cả hai mẫu đá từ
Afghan và Myanmar đều được cho là có sự cải thiện độ sạch bởi
vẻ bên ngoài hơi trắng và phát huỳnh quang trong những khe nứt
của đá. Điều này được khẳng định trong cả 8 viên đá Afghan bởi
sự xuất hiện của những dãy hấp thu từ 3050 – 2830 cm-1
và ở khoảng 3412 cm-1 khi xem phổ FTIR. Mẫu đá mài
giác của Myanmar nặng 0,64 ct không chỉ ra bất cứ bằng chứng về
sự cải thiện độ sạch khi quan sát bằng mắt hay dưới thiết bị quang
phổ học. Trong khi 4 mẫu cabochon Myanmar được thử nghiệm cũng
thấy các dãy hấp thu tại vị trí tương tự như các mẫu đá từ Afghan
vì thế không đưa ra được kết luận chung nào.
Tất cả các mẫu
đều phát huỳnh quang dưới UV sóng dài. Những viên đá từ Afghan
thường phát huỳnh quang vàng mạnh đến cam và hầu hết những
khoáng từ Myanmar thì phát huỳnh quang màu cam yếu (mẫu 1 và 2
có màu cam vừa đến mạnh). Khi chiếu UV sóng ngắn, những mẫu
từ Afghan phát huỳnh quang màu đỏ yếu đến vừa hoặc cam, sau đó
nhanh chóng chuyển sang phát quang mạnh hơn với màu trắng vừa – mạnh
đến trắng phớt vàng. Trong khi đó khoáng từ Myanmar lại phát
huỳnh quang mạnh màu vàng phớt lục trong các khe nứt dưới UV
sóng ngắn; hầu hết các khoáng từ Myanmar bản thân chúng không
phản ứng vời UV sóng ngắn, ngoại trừ mẫu 1 có phản ứng màu
đỏ yếu và không có khe nứt.
Tính phát lân
quang khi đá bị chiếu cực tím cũng có nhiều kết quả khác
nhau. Sau khi chiếu cực tím sóng ngắn, khoáng từ Afghanistan
phát lân quang màu trắng phớt vàng vừa đến mạnh kéo dài vài
phút; phản ứng dưới UV sóng dài cho cường độ yếu hơn nhưng
khoảng thời gian kéo dài là gần bằng nhau. Mẫu 1 và 2 từ
Myanmar phát lân quang màu trắng rất yếu đến yếu khi chiếu UV
sóng ngắn, kéo dài trong khoảng 1 phút. Phản ứng phát lân quang
cũng xảy ra tương tự trên các mẫu từ Myanmar và Afghanistan được
mô tả bởi Tunzi và Pearson (2008).
Không ngoài dự
đoán, phổ Raman của tất cả các mẫu không thể phân biệt với
phổ của sodalite. Ở vùng giữa hồng ngoại, phổ FTIR có một số
khác biệt, hầu hết ở giữa 2750 và 2250 cm-1. Hơn nữa
những mẫu cho là sodalite sẽ có những đỉnh hấp thu trong phổ
hồng ngoại ở 4874, 4690, 4110, 3971, 3033, 2655 và 2272 cm-1
nhưng lại không được thấy trong bất kỳ mẫu nào của nghiên cứu
này. Phân tích hóa định tính bằng phổ EDXRF của tất cả mẫu
Myanmar và Afghan thấy được đỉnh lưu huỳnh yếu, điều này không
có trong sodalite.
|
 |
Hình
4: Phổ UV-Vis-NIR của các viên hackmanite Myanmar và
Afghan cho thấy sự tăng hấp thu ở
~
550 nm trong trạng thái bức xạ cực tím (màu xanh) so
với trạng thái kém bão hòa màu (màu đỏ). Những mẫu
này được kích hoạt bằng cách chiếu tia vào mặt bàn
và cho ra ở chóp đáy với độ dài lần lượt qua mẫu 0,6 ct
từ Myanmar là
~
3,45 và mẫu 2,59 ct từ Afghan là
~
5,60 mm. |
Trong tài liệu,
sự đổi màu và phát huỳnh quang của hackmanite thường là do ion
S2- tạo nên (theo Liu và những người khác, 2004; Sidike
và những người khác, 2007; Học Viện Đá Quý Đức-Nhật, 2008).
Để hiểu rõ hơn về những đặc điểm hấp thu đưa đến các màu đã
nhận được, hình 4 cung cấp phổ hấp thu UV-Vis-NIR của các mẫu
hackmanite điển hình từ Myanmar và Afghan (cho thấy cả thay đổi
màu mạnh và yếu) trong trạng thái làm nhạt màu và chiếu xạ
cực tím của chúng. Thông thường, tất cả phổ có dải hấp thu
rõ trong khoảng giữa 500 nm, mặc dù trong một vài trường hợp
dải này có đỉnh ở mức gần 590 nm. Những mẫu ít trong suốt từ
Myanmar (tất cả có 6 mẫu được thí nghiệm) thì có dải hấp thu
ở ~
550 nm và đỉnh hấp thu đạt từ
~
310 đến 350 nm. Trong nhiều trường hợp những mẫu từ Afghan (8
trong số 10 mẫu được thử nghiệm) cũng cho thấy dải hấp thu
giữa 500 nm này cộng với những dải hấp thu khác. Ví dụ, một
dải hấp thu nhỏ trong khoảng 410 – 412 nm có trong những mẫu từ
Afghan những lại không thấy dải này trên những mẫu từ Myanmar.
Chúng tôi cũng nhận thấy những đỉnh với vị trí đặc trưng ở
277 và 313 nm trên các mẫu từ Afghan;
tuy nhiên chúng ta không thể cho rằng nếu ở các mẫu từ
Myanmar cũng có những dải hấp thu này thì vị trí ấy cũng là bão
hòa khi xem trong phổ đó.
Đối với những
mẫu có sự thay đổi màu, dải bước sóng trong khoảng giữa 500 nm
phát triển thành dải hấp thu sau khi đá bị bức xạ cực tím:
đây là dải gây nên màu và hiện tượng lạ trên đá. Nhiều mẫu
trong trạng thái giảm bão hòa màu cho thấy có những đỉnh yếu
chồng lên dải chính, với dải thứ 2 hầu hết nhô lên tập trung ở
672 nm. Những kết quả tương tự được ghi nhận bởi Hainschwang
(2007).
KẾT LUẬN:
Rõ ràng, nhiều
mẫu đá từ Myanmar và khoảng một nửa mẫu đá từ Afghan được
thử nghiệm trong nghiên cứu này cho thấy sự đổi màu rõ rệt là
đặc điểm của hackmanite. Tuy nhiên một số ít viên đá Myanmar màu
xanh đậm đến tím và một số viên đá Afghan có sự khử bão hòa
mạnh thì ít hoặc không thay đổi màu khi chiếu tia UV hoặc nguồn
ánh sáng trắng hay khi đặt vào chỗ tối trong một thời gian khá
lâu. Những viên đá không hoặc đổi màu rất yếu có lẽ tốt nhất
là cho vào nhóm sodalite, kể cả khi chúng có chứa một ít lưu
huỳnh. Mặc dù hackmanite thường được các tài liệu về đá mô tả
là một loại sodalite mang lưu huỳnh và được nhận biết bởi sự
đổi màu của nó. Nhưng vẫn không có một nguyên tắc nào để phân
biệt rõ ràng giữa hackmanite và sodalite. Chúng tôi cho rằng chỉ
những viên sodalite biến đổi màu thấy rõ mới được gọi là
hackmanite. (Theo David Kondo và Donna Beaton, Notes&New Techniques,
G&G Spring 2009) |