|
Andradite
Từ Erzincan, Miền Đông Turkey (Thổ Nhị kỳ) (Bản tin tháng 12/2009)
Tháng 10 năm 2007,
Alexandra Woodmansee (Rock Logic, Glencoe, Minnesota) cho GIA biết tin
về một phát hiện mới về đá demantoid ở Turkey. Cô mua được vài mẫu đá
loại thô và mài giác tại Hội chợ đá quý Tucson 2008. Cô đã cho GIA mượn
vài mẫu để nghiên cứu. Người cung cấp hàng cho cô, ông Kerem Özϋtemiz
(Truva Mining Ltd., Ankara, Turkey) cũng đã cho trưng bày loại đá garnet
tại Tucson cả hai năm 2008 và 2009. Ông cho một người trong số chúng tôi
biết rằng ông có được quyền khai thác mỏ ở gần Erzincan, cách 700 km về
hướng Đông của Ankara. Do mùa đông dài và khắc nghiệt nên ông chỉ khai
thác được 3 tháng mỗi năm (từ tháng 6 đến tháng 8). Sử dụng một búa hơi
và những công cụ cầm tay, ông sản xuất được ~ 300 g đá có thể mài giác
được trong năm 2007 và ~ 120 g trong năm 2008, mặc dù hầu hết là khá nhỏ
và nhiều tạp chất. Đến nay, ông đã có khoảng 20 viên mài giác (ở Đức) từ
0,5 đến 1,2 ct, cũng như rất nhiều viên đá đủ loại kích cỡ, tổng trọng
lượng ~ 300 ct.
|
 |
|
Hình 1: Các
viên andradite (0,15 – 0,38 ct) được mài từ đá thô xuất xứ ở
miền Đông Turkey vào khoảng giữa năm 2007. Ảnh của Kevin
Schumacher. |
Kiểm tra ngọc học trên
13 viên đá của cô Woodmansee thu mua từ ông Özϋtemiz cho thấy có 06 mẫu
là andradite (bao gồm cả vài viên demantoid) và 07 mẫu là grossular
(tsavorite). Sự hiện diện của grossular không thể giải thích, nhưng ông
Özϋtemiz cho biết rằng các viên đá đó có thể được đưa vào từ một lô hàng
nào đó ở xưởng cắt mài. Sáu mẫu đá andradite (hình 1; nặng từ 0,15 –
0,38 ct) được mô tả đặc điểm như sau: màu sắc: nâu phớt cam, vàng phớt
nâu, lục-vàng và lục phớt vàng (4 mẫu màu lục-vàng đến lục phớt vàng
là demantoid); chiết suất RI: >1,81; tỷ trọng SG: 3,82 – 3,93
(các mẫu màu nâu/vàng) và 4,17 – 4,43 (các mẫu màu lục); trơ dưới cả UV
sóng ngắn và sóng dài; một vạch hấp thu phổ thấy ở vị trí 440 nm dưới
phổ kế để bàn. Kiểm tra với kính hiển vi phát hiện các sợi kim cong tỏa
tia kết hợp với các khe nứt (vài mặt nứt chứa mặt lấp đầy trong suốt
hoặc tàn dư không hoàn chỉnh cô đặc lại), các cụm mây dạng vân tay và
đới tăng trưởng hình lục giác. Ngoại trừ trị số tỷ trọng cao, còn lại
các đặc điểm trên đều đặc trưng cho andradite (theo Gems quyển
số 6 được biên tập bởi M.
O’Donoghue và Butterworth Heinemann, Oxford, UK, 2006, trang 206 – 210).
Thêm nữa là các mẫu demantoid có các đới màu lục giác màu nâu và lục rất
rõ ràng, trước đây ta cũng đã thấy điều tương tự trong hai mẫu andradite
từ Iran (xem trong quyển Gem News International [GNI], Spring 2007,
trang 65 – 67).
Phân tích hóa định
lượng 06 mẫu andradite bằng máy vi cực điện tử tại Đại Học Oklahoma (xem
chi tiết trong ngân hàng dữ liệu G&G tại trang
www.gia.edu/gandg) phát hiện trong số garnet này chứa 93,4 – 98,9
mol% thành phần là andradite. Các mẫu demantoid chứa một lượng Cr đáng
kể (0,09 – 1,45 % khối lượng Cr2O3), trong khi
andradite màu nâu phớt cam lại có thành phần Ti cao nhất (0,13 % khối
lượng TiO2).
(Theo Brendan M. Laurs,
Alethea Inns (alethea.inns@gia.edu),
GemNews, Summer 2009) |