Giới thiệu
Kim cương
Đá màu
Vàng và kim loại quý
Dịch vụ
Thông tin khoa học và nghiên cứu
Tin nóng
Bản tin hàng tháng
Các phát minh và nghiên cứu về đá trên thế giới
Bộ sưu tập ảnh.
Thiết bị giám định
Hỏi và đáp
Tin nóng
Grossular màu lục-vàng nhạt

Grossular màu lục-vàng nhạt ở Kenya (Bản tin tháng 09/2009).

Grossular màu lục thẫm (tsavorite) được phát hiện ở miền Đông châu Phi, tại Mozambique Belt (Tanzania) vào cuối thập niên 1960. Năm 1970 phát hiện thêm ở Kenya, được báo cáo bởi C. R. Bridges (Bài “Garnet-grossular màu lục [“Tsavorite”] ở Đông châu Phi”, trong quyển Summer 1974 G&G, trang 290 – 295). Theo tác giả Bridges (trang 293), những nghiên cứu ban đầu ở các khoáng vật từ không màu đến lục phớt vàng nhạt đến màu lá cỏ đậm hay lục emerald, cho thấy rằng màu lục sáng là do nguyên tố vanadi (V) cùng với sự hiện diện của Cr (chrôm). Mangan (Mn) cũng được tìm thấy trong các đá sáng màu và sắt (Fe) trong đá sẽ tạo ra nhiều tông màu phớt vàng (Bridges, 1974). Những nghiên cứu sau này cho thấy có mối liên quan của việc tăng lượng tập trung giữa V và Cr với màu lục; còn Fe thì liên quan với màu vàng của đá (theo D. V. Manson và C. M. Stockton, bài “Gem-quality grossular garnets”, quyển Winter 1982 G&G, trang 204 – 213).

 

Hình 1: Các mẫu grossular (2,96-9,96 ct) từ vùng Voi, Kenya. Hình của Robert Weldon

 

Tháng 11 năm 2008, Dudley Blauwet (Dudley Blauwet Gems, Louisville, Colorado) đưa cho GIA mượn 04 mẫu đá grossular màu lục-vàng nhạt (hình 1), chúng có nguồn gốc từ làng Kabanga ở vùng Voi thuộc Kenya. Trước đây Voi là nơi có truyền thống về sản xuất nhiều loại khoáng màu xanh đậm hơn hoặc bão hòa hơn như loại tsavorite chẳng hạn, vì thế mà đến giờ chúng tôi mới có cơ hội mô tả đặc điểm của những mẫu vật nhạt màu hơn này. Các đặc điểm thu thập được từ 4 mẫu đá: màu sắc: lục-vàng nhạt đến lục phớt vàng nhạt; chiết suất RI: 3 mẫu có trị số RI = 1,738, một mẫu có RI = 1,736; tỷ trọng SG: 3,58 – 3,60; phát huỳnh quang: đỏ yếu đến vừa đến cam vừa dưới chiếu tia UV sóng dài và vàng-cam vừa dưới UV sóng ngắn; và không có đặc điểm nào được thấy bằng phổ kế để bàn. Những đặc tính này phù hợp với khoáng grossular (theo Gems quyển số 5 được biên tập bởi R. Webster, P. G. Read và Butterworth Heinemann, Oxford, UK, 1994, trang 201 – 202). Giữa kính phân cực chữ thập sẽ quan sát được lưỡng chiết suất dị thường từ rất yếu đến vừa. Quan sát dưới kính hiển vi phát hiện các kim ngắn và dài (nhìn bên ngoài có hình ống, vài cái dạng bó sợi) sắp xếp theo hướng khoảng 70o­­ hoặc 110 o; những tinh thể nhỏ, trong suốt nằm tập trung thành cụm; các màng mỏng nhỏ; đôi khi còn có các phần tử rắn (hình 2). Các dạng bao thể này tương đồng với các bao thể thường thấy trong tsavorite (theo Gems quyển số 6 được biên tập bởi M. O’Donoghue và Butterworth-Heinemann, Oxford, UK, 2006, trang 215 – 216). Ngược lại loại grossular kích thước lớn có màu tương tự màu vàng phớt lục ở vùng nào đó thuộc miền Đông Châu Phi đã được trình bày trong Winter 2005 GNI trang 352 – 353, loại này có kiểu tăng trưởng chồng chéo mạnh là đặc điểm đặc biệt của hessonite, một khoáng trong nhóm grossular.

 

Hình 2: Các viên garnet Kenya trong hình 1 chứa các bao thể dạng kim, các màng mỏng và các bao thể trong suốt. Hình chụp hiển vi của D. Beaton, phóng đại 30x

Phân tích hóa bằng máy LA-ICP-MS (Phổ khối lượng – Plasma kép – Bắn laser) trên cả 4 viên đá cũng chứng thực chúng là grossular với tổng lượng Mn, Mg và Ti là <0,7 wt.%; và một lượng nhỏ các nguyên tố Fe, K, V và Cr (<0,1 wt.%). Trong grossular thường không tinh khiết và sự tập trung chromophore thấp là phù hợp với việc nhạt màu ở các mẫu đá. Phân tích phổ UV-Vis-NIR (Phổ cực tím – Thấy được – Gần hồng ngoại) cho thấy những dải hấp thu rất yếu ở 409, 419 và 430 nm, là do có sự tương quan giữa Mn2+ với màu vàng (Winter 1991 Gem News, trang 258). Mặc dù màu sắc của những mẫu đá đó bao gồm tsavorite chromphore Cr và V không đủ bão hòa để có thể phân loại chúng là tsavorite theo như định nghĩa của các tài liệu ngọc học.

Sau đó ông Blauwet có thêm ~ 100g khoáng vật vùng Kabanga nữa từ nhà cung cấp tương tự (trọng lượng đặc trưng từ 1 – 2 g và hiếm khi nặng đến 5 g). Đá thô gồm các đoạn bị gãy, ngoại lệ có một gói chỉ gồm các viên bị nước ăn mòn. Tương tự với các tính chất khoáng vật trong báo cáo này, đá thô Kabanga còn mang các màu từ lục phớt vàng nhạt đến màu lục của lá bạc hà. (Theo HyeJin-Green (hjanggre@gia.edu) và Donna Beaton, trong GemNews Spring 2009)

Bản in
Phản hồi
Gửi tới
Các tin khác:
Kyanite Màu Cam Từ Tanzania (Bản tin tháng 12/2009)
Thay đổi địa điểm
Mẫu Thạch Anh chứa tinh thể Emerald rất lớn (Bản tin tháng 03/2009)
Bao thể có hình dạng rất lạ trong kim cương (Bản tin tháng 03/2009)
Corundum tẩm màu (Bản tin tháng 03/2009)
Hai viên Ruby nhân tạo lý thú (Bản tin tháng 03/2009)
Moissanite đen gây nhầm lẫn với kim cương đen (Bản tin tháng 03/2009)
Topaz sao và mắt mèo ở Brazil (Bản tin tháng 1&2/2009)
Ruby mới ở miền trung Tanzania (Bản tin tháng 1&2/2009)
Ngọc trai nuôi song sinh hai màu (Bản tin tháng 1&2/2009)
|1| |2| |3| |4| |5| |6| Trang tiếp
Trang chủ Giới thiệu Sơ đồ site Liên hệ
Designed by  CanhCam Co., Ltd.