Mexifire: Một Loại Opal Lửa Tổng Hợp Mới (Phần 2) (Bản tin
tháng 05/2009)
(Bài
viết của Garan Choudhary & Rjneesh
Bhandari –
biên tập Đỗ Tường Huy)
Các
loại Opal tổng hợp đã được sản xuất, sử dụng làm trang
sức trong hơn 3 thập niên và các loại Opal nhái khác nhau
cũng đã được đưa vào mua bán. Bài này mô tả tiếp theo loại
Opal lửa tổng hợp loại mới có tên thị trường là “Mexifire”
1.
Các
kết quả và thảo luận:
1.1
Các đặc điểm mắt thường:
(xem phần 1, bản tin giám định tháng 4/2009)
1.2
Các tính chất ngọc học:
Chiết suất, tỷ trọng, tính phân cực, phát quang, phổ hấp
thu:
(xem
phần 1, bản tin tháng 4/2009)
Đặc
điểm bên trong:
Giám
định các mẫu Mexifire bằng kính hiển vi
ngọc học và kính hiển vi trục ngang cho thấy các đặc điểm
sau:
-
Tính
đục:
hầu hết cho thấy đục vừa đến mạnh khi chiếu sáng bằng
đèn sợi quang. Tuy nhiên khi chiếu sáng thị trường tối
chúng lại trong suốt. Độ đục đôi khi tạo thành đới
(hình 4, trái), thấy giống một trong các viên Opal thiên
nhiên được giám định (hình 4, phải) và trong một vài
viên Opal lửa tự nhiên (Choudhary và Khan, 2007).
-
Chấm
đầu kim:
tất cả các mẫu tổng hợp đều có các chấm đầu kim tỏa
khắp viên đá (hình 4, trái). Các chấm đầu kim nhìn thấy
rõ nhất khi mẫu được chiếu bằng ánh sáng đèn sợi
quang, chỉ hiệu quả kém khi xem dưới thị trường tối.
Ngay cả ở độ phóng đại cao, bản chất chính xác của
các chấm đầu kim này cũng không thể xác định. Mặc dù
tương tự như các bao thể dạng bông tuyết rải khắp được
thấy trước đó trong các viên Opal tự nhiên, Guibelin và
Koivula (2005) đã lưu ý đến các hạt pyrite rất nhỏ rải
rác khắp viên đá, chúng tôi đã không tìm thấy bất cứ
báo cáo nào về các bao thể chấm đầu kim như vậy trong
Opal tự nhiên.
|
 |
 |
|
Hình 4:
Các đới đục được quan sát trong hầu hết tất cả
các mẫu tổng hợp (trái, phóng đại 20X) và trong
một trong các viên opal tự nhiên (phải, phóng đại
15X. Chú ý các bao thể chấm đầu kim phân bố khắp
mẫu bên trái. Hình hiển vi của G. Choudhary, chiếu
sáng đèn sợi quang. |
-
Bao thể
dạng sợi tóc:
một trong các viên opal tổng hợp có bao thể dạng sợi
tóc (hình 5, trái) lộ ra đến tận bề mặt. Bản chất
chính xác của nó không thể xác định được, nhưng nó rất
giống ống rỗng lấp đầy vật liệu thứ sinh. Một trong
các viên Opal tự nhiên cũng có bao thể tương tự (hình 5,
phải). Johnson và cộng sự (1996) đã báo cáo các bao thể
có dạng tương tự trong opal lửa từ Ethiopia.
|
 |
 |
|
Hình 5:
Một trong các mẫu nhân tạo chứa các bao thể dạng
sợi tóc (trái, phóng đại 75X) xuất hiện dưới
dạng ống rỗng lấp đầy vật liệu thứ sinh. Đặc
điểm tương tự cũng thấy trong một mẫu opal lửa
tự nhiên (phải, phóng đại 80X). Hình của G.
Choudhary, chiếu sáng đèn sợi quang. |
Qua nhiều năm,
Opal nhân tạo và nhái đã rất khác biệt so với tự nhiên
bằng sự có mặt của hiện tượng “da thằn lằn” hoặc “da gà”
và/hoặc kiểu tăng trưởng dạng cột (xem ví dụ của Gubelin
và Koivula, 1986, 2005; O’Donoghue, 2006, 2007). Xem xét chi tiết
hơn các bao thể và dạng tăng trưởng trong các mẫu opal
Mexifire được thực hiện bằng cách dùng nhiều loại kỹ thuật
và cách chiếu sáng khác nhau, nhưng không thấy hiện tượng
“da thằn lằn” hoặc “da gà”. Các hiện tượng này chỉ rõ
ràng trong opal tổng hợp được làm từ các hạt silicat được
sắp xếp đều đặn với cấu trúc nén chặt đóng vai trò như
bằng chứng rõ hơn về cấu trúc của loại opal tổng hợp mới
này khác với hầu hết các loại opal tổng hợp và opal nhái
được mô tả trước đây. Ngoại trừ một
trường hợp opal tổng hợp của Nga cũng không thấy hiện tượng
“da thằn lằn” (Smallgood, 2003).
Thêm một vài
đặc điểm bên trong gặp trong opal tự nhiên được nghiên cứu để
so sánh được trình bày trong hình 6.
Xem thêm Gubelin và Koivula (2005) để có
được hình ảnh chi tiết về các bao thể trong opal tự nhiên.
|
 |
 |
|
Hình 6:
Một vài viên opal lửa tự nhiên làm đối chứng thể
hiện các đặc điểm bên trong như dạng dòng chảy
gợn sóng với sự tập trung màu (trái, độ phóng
đại 45X) và bao thể dạng lông vũ (phải, chiếu
sáng đèn sợi quang, phóng đại 80X) không thấy
trong opal tổng hợp Mexifire. Hình của G. Choudhary. |
1.3
Phân tích EDXRF:
Phổ EDXRF định
tính của tất cả các mẫu tổng hợp cũng như tự nhiên, liên
quan đến sự có mặt của Silic (Si) như là một nguyên tố
chính trong opal.
Thêm vào đó các mẫu trong cả 2 nhóm đều có dấu vết của Fe
và Ca. Chúng tôi không nhận thấy bất cứ nguyên tố Zr nào hay
được sử dụng để tẩm và ổn định opal (Webster, 2002;
Smallgood, 2003).
1.4
Phân tích FTIR:
Phổ hồng ngoại
ghi nhận được của các mẫu tổng hợp và tự nhiên đã thể
hiện các đặc điểm tương tự nhau trong khoảng 400 – 6000 cm-1
(ví dụ hình 7, cùng so sánh với Johnson và cộng sự, 1995).
Các sự khác biệt nhỏ trong mật độ và sự xuất hiện của
kiểu hấp thu có nguyên nhân do sự khác nhau về lượng
truyền phát, sự truyền phát tốt cho các đặc điểm phổ sắc
nét hơn. Tất cả các mẫu đều có dải hấp thu trong vùng
5000 – 5350 cm-1; đặc điểm này cũng bao gồm các
đỉnh rõ nét tùy thuộc vào sự truyền phát. Các mấp mô quan
sát thấy được trong khoảng 4300 – 4600 cm-1 (thường
với các đỉnh nhỏ) trong tất cả các mẫu tổng hợp và trong
7/12 mẫu tự nhiên đem nghiên cứu. Sự vắng mặt của các đặc
điểm hấp thu trong khoảng 4300 – 4600 cm-1 có thể
cung cấp các tiêu chuẩn nhận diện hữu ích cho việc xác
định nguồn gốc tự nhiên. Đầu dò bị bão hòa bởi sự hấp
thu mạnh ở các trị số sóng gần
dưới 4000 cm-1.
|
 |
Hình 7:
Thể hiện trên hình là phổ hồng ngoại của opal tổng
hợp Mexifire (trên) và opal lửa tự nhiên (dưới) cho
thấy các đặc điểm tương tự: dải hấp thu trong vùng
5000 – 5350cm-1, các mấp mô trong khoảng 4300
– 4600cm-1 (không thấy phổ trong một vài mẫu
tự nhiên) và sự hấp thu hết bên dưới gần 4000 cm-1. |
Một vài sản
phẩm Inamori/Kyocera được xem như là hàng nhái hơn là loại
tổng hợp bởi vì chúng sử dụng nhựa như là chất gắn kết.
Mặc dù các sản phẩm Mexifire có giá trị tỷ trọng thấp
chắc chắn do sự có mặt của nhựa, nhưng không thể xác định
được với phổ hồng ngoại do sự hấp thu hoàn toàn trong vùng
phổ. Tuy nhiên nhà sản xuất tuyên bố không
có nhựa hiện diện trong opal Mexifire.
1.5
Độ bền và rạn nứt:
20 mẫu opal
Mexifire không thể hiện bất cứ dấu vết rạn nào trong suốt
cuộc thí nghiệm này, nhưng 3 trong số các viên opal tự nhiên
đã rạn trong vòng một tuần đến một tháng, 7 mẫu tự nhiên
khác không thấy bất cứ dấu hiệu rạn nào.
2.
Kết
Luận
Sự tương tự
trong một vài tính chất ngọc học, cũng như trong thành phần
hóa học và đặc điểm phổ hồng ngoại đã được ghi nhận giữa
các viên opal tổng hợp Mexifire và các viên opal lửa tự nhiên
đối chiếu. Tuy nhiên, giá trị tỷ trọng thấp (<1,77) là chỉ
dấu rất tốt cho việc xác định opal lửa không phải tự nhiên
và bằng chứng cộng thêm là giá trị chiết suất thấp (<1,40)
và các đặc điểm bên trong như là các bao thể chấm đầu kim
tỏa ra khắp nơi. Thêm vào đó, sự vắng mặt của các mấp mô
trong khoảng 4300 – 4600 cm-1 trong phổ hồng ngoại
gợi ý đó là opal tự nhiên
Các tính chất Opal lửa tổng hợp và opal lửa tự nhiên được
tóm tắt trong bảng bên dưới:
|
Tính chất |
Opal lửa tổng hợp Mexifire |
Opal lửa tự nhiên |
|
Màu sắc |
Cam phớt nâu đến vàng cam. |
Cam phớt nâu đến vàng cam. |
|
Phân bố màu |
Đều đặc trưng. |
Thường tạo đới màu; dạng dòng chảy hoặc gợn sóng. |
|
Tính trong mờ |
Trong suốt dưới điều kiện xem bình thường; bán trong
hoặc đục dưới đèn sợi quang |
Trong suốt đến trong mờ |
|
Chất lượng đánh bóng |
Tốt |
Mờ đục đến tốt |
|
Chiết suất |
1,380 – 1,405 |
1,400 – 1,435 (trong nghiên cứu này)
1,420 – 1,430 (O’Donoghue, 1988) |
|
Tỷ trọng |
1,63 – 1,77 |
1,92 – 2,06 (trong nghiên cứu này)
2,00 (Webster, 2002) |
|
Tính phân cực |
Kiểu căng mạnh với các dải như con rắn |
Dạng căng yếu hơn, không thấy các dải như con rắn |
|
UV sóng dài, sóng ngắn |
Yếu |
Yếu |
|
Phổ để bàn |
Không có đặc điểm |
Không có đặc điểm |
|
Đặc điểm bên trong |
1.
Đục theo đới (xem với đèn sợi quang)
2.
Các bao thể chấm đầu kim khắp nơi
3.
Bao thể dạng sợi tóc (trong 1 mẫu) |
1.
Đục theo đới (trong 1 mẫu)
2.
Các bao thể pyrite rải rác hoặc một vài bao thể
dạng bông
3.
Phổ biến các bao thể hình cây
4.
Kiểu dòng chảy, đới mây, bao thể lỏng và nứt dạng
lông chim, bao thể dạng sợi tóc (trong 1 mẫu) |
|
Phân tích EDXRF |
Sự hiện diện của Si, Fe và Ca |
Sự hiện diện của Si, Fe và Ca |
|
Phổ FTIR |
Dải hấp thu trong vùng 5000 – 5350cm-1; các
mấp mô từ 4300 – 4600cm-1; đầu dò bị bão
hòa bởi các trị số sóng dưới 4000cm-1 |
Dải hấp thu trong vùng 5000 – 5350cm-1; các
mấp mô từ 4300 – 4600cm-1; đầu dò bị bão
hòa bởi các trị số sóng dưới 4000cm-1 |
|
Tính ổn định/rạn |
Không thấy rạn trong 20 mẫu |
3 trong 10 mẫu bị rạn trong một tuần hoặc một tháng |