|
Mexifire: Một Loại Opal Lửa Tổng Hợp Mới (Phần 1) (Bản tin tháng
04/2009)
(Bài
viết của Garan Choudhary & Rjneesh Bhandari – biên tập Đỗ Tường
Huy)
Opal
lửa tự nhiên được biết đến chủ yếu từ Mexico. Một số nơi khác
cũng có như Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ethiopia, Oregon và Java. Opal
lửa có tính thương mại và giá trị cao đã kích thích việc sản
xuất các sản phẩm tổng hợp nhái Opal tự nhiên.
Opal tự
nhiên là silic ngậm nước, không kết tinh đến vi tinh, với thành
phần hóa học là SiO2.nH2O. Vào năm 1964,
không lâu sau khi cấu trúc của Opal được xác định, nỗ lực đầu
tiên sản xuất Opal tổng hợp đã được ghi nhận; và nó được
thương mại hóa vào năm 1975.
Opal
tổng hợp được sản xuất từ một số nguồn bao gồm Gilson,
Kyocera/Inamori và một vài nhà sản xuất Liên Xô (như Quinn, 2003;
Smallwood, 2003). Một vài loại có hoặc không có hiện tượng lấp
lánh nhiều màu, từ trắng và đen cho đến hồng, cam hoặc nâu.
Bài này đề cập đến đặc điểm của một loại Opal lửa tổng hợp
mới (hình 1) được phát triển bởi một trong các tác giả (RB)
và được sản xuất bởi Rhea Industries, trên thị trường gọi là
“Mexifire”.
|
 |
|
Hình 1:
Các mẫu Opal lửa tổng hợp (0,23 – 3,50 ct) có tên
thương mại là Mexifire. Hình của G.Choudhary |
Hầu
hết Opal tổng hợp được sản xuất trong quá khứ thể hiện rõ
hiện tượng lấp lánh nhiều màu, được tạo ra bằng cách sắp xếp
3 chiều các hạt có kích cỡ đều nhau (Nassau, 1980; Schmetzer,
1984; Smallwood, 2003). Những viên Opal tổng hợp lấp lánh màu sắc
này có thể đạt được bằng cách: (1) sản xuất các hạt silicat
dạng cầu với kích thước đều đặn thích hợp; (2) gắn kết những
hạt cầu này trong một cấu trúc chặt; và sau đó (3) làm khô,
gắn kết, khử nước và nén chặt ngay ngắn vào một sản phẩm ổn
định. Opal tổng hợp Mexifire không có hiện tượng lấp lánh màu
sắc và thực hiện theo một quá trình khác. Dưới điều kiện đặc
biệt, tiền thân của các silica (trong trường hợp này là
tetraethyl orthosilicate [TOES]) được sử dụng để sản xuất khuôn
silic tương tự như cấu trúc của Opal lửa tự nhiên. Giống như Opal
lửa tự nhiên (Fritsch và cộng sự, 1999, 2006), màu cam là do sự
có mặt của Sắt. Không giống như Opal tự nhiên, các viên Opal
tổng hợp này không bị rạn.
1.
Các vật liệu và Phương Pháp:
Chúng
tôi giám định 38 viên Opal lửa mài giác: 26 viên tổng hợp (0,23 –
3,50ct; hình 1) và 12 viên tự nhiên được cho là từ Mexico (0,30 –
4,00ct, hình 2). Các mẫu đem giám định chỉ giới hạn trong
khoảng kích thước trên, nhưng các viên lớn hơn có thể sẽ xuất
hiện trong tương lai.
|
  |
|
Hình 2:
Trong số các viên Opal lửa tự nhiên được nghiên cứu
để so sánh với các viên tổng hợp Mexifire có từ màu
cam phớt nâu (trái, 0,30 – 0,86ct) đến vàng cam (phải,
0,67 – 0,81ct), tất cả được báo là có nguồn gốc từ
Mexico. Hình của G.Choudhary. |
Các
kiểm tra ngọc học tiêu chuẩn đã được thực hiện. Chỉ số chiết
suất được đo bằng chiết suất kế GemLED. Trọng lượng riêng thủy
tĩnh được xác định bằng cân điện tử Mettler Toledo CB 1503.
Kính phân cực để kiểm tra tính dị hướng. Phát quang được kiểm
tra dưới tia UV sóng dài (365nm) và sóng ngắn (254nm). Phổ hấp
thu được quan sát bằng phổ kế lăng kính để bàn GIA Prism 1000.
Chúng tôi kiểm tra các đặc điểm bên trong của mẫu bằng cả kính
hiển vi ngọc học 2 mắt (với đèn sợi quang và các dạng ánh
sáng khác, bao gồm cả thị trường tối và thị trường sáng) và
kính hiển vi trục ngang với mẫu vật nhúng trong nước.
Phân
tích hóa định tính huỳnh quang tia X phát tán năng lượng (EDXRF)
của tất cả 38 mẫu được tiến hành bằng thiết bị PANalytical
Minipal 2 dưới 2 điều kiện khác nhau: các nguyên tố có số nguyên
tử thấp (Si) được đo ở mức 4kV và 0,850mA, các nguyên tố nặng
và chuyển tiếp ở mức 15kV và 0,016mA.
Phổ
hồng ngoại của tất cả 38 mẫu được ghi nhận ở khoảng 400 – 6000
cm-1 ở độ phân giải chuẩn 4cm-1 và 50 lần
quét/mẫu bằng máy phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR)
Nicolet Avatar 360 ở nhiệt độ phòng với bộ chuyển đổi phụ. Các
phổ hồng ngoại phức tạp được thu nhận để tìm hướng truyền
tốt nhất, do bị ảnh hưởng lớn bởi mặt cắt giác của mẫu vật.
Một
vài thí nghiệm về khả năng nứt rạn được thực hiện trong thời
gian trên 1 năm. Tổng cộng có thêm 20 viên Opal tổng hợp Mexifire
và 10 viên Opal tự nhiên được đặt dưới bóng đèn 100w trong 240h.
Các mẫu được quan sát cách quãng đều đặn để tìm dấu hiệu
của sự rạn nứt.
2.
Các kết quả và thảo luận:
2.1
Các
đặc điểm mắt thường:
26 viên Opal tổng hợp Mexifire có khoảng màu từ cam phớt nâu
vừa-đậm đến vàng cam (xem hình 1). 12 viên Opal tự nhiên được
kiểm tra để so sánh được chia làm 2 nhóm màu: nhóm một có màu
cam phớt nâu tương tự như sản phẩm Mexifire (xem lại hình 2,
trái) trong khi nhóm còn lại có màu vàng cam sáng hơn (hình 2,
phải). Tất cả đá tổng hợp có màu đều khi nhìn từ mặt bàn.
Khi nhìn từ bên hông, một trong số chúng có phần gờ đậm màu
hơn phần đáy (hình 3).
|
 |
Hình 3:
Một trong các viên Opal lửa tổng hợp thể hiện sự
không đều màu khi nhìn từ bên hông, phạm vi gờ sậm
màu hơn phần đáy. Hình của G.Choudhary, độ phóng đại
15X, thị trường sáng. |
Sự
khác biệt về màu sắc này cũng hiện diện trong Opal lửa tự
nhiên (Gubelin & Koivula, 2005, trang 498). Tất cả các mẫu đều
trong suốt dưới điều kiện quan sát bình thường, nhưng chúng hơi
mờ khi quan sát dưới ánh sáng đèn sợi quang. Bên cạnh đó, tất
cả các mẫu tổng hợp có chất lượng đánh bóng tốt, nhưng một
vài mẫu tự nhiên lại có ánh mờ hơn là do kết quả của việc
sử dụng thường xuyên trong các hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu trong phòng thí nghiệm (nguyên nhân gây nên các trầy xước và
các vết mòn).
2.2
Các
tính chất ngọc học:
Các tính chất ngọc học của 38 viên Opal lửa tổng hợp và tự
nhiên được mô tả bên dưới:
Chiết suất:
Tất cả các viên Opal tổng hợp có trị số chiết suất đọc được
trong khoảng 1,380 – 1,405 (4 viên ở 1,380; 1 viên ở 1,382; 1 viên ở
1,385; và 11 viên ở 1,390; trong khi 4 viên có viền mờ ở 1,395; 3
viên ở 1,400 và 2 viên ở 1,405). Tất cả các viên Opal lửa tự
nhiên khi đem thí nghiệm để so sánh có trị số chiết suất từ
1,400 – 1,435. O’Donohuge (1988) khẳng định rằng trị số chiết
suất đặc trưng của Opal lửa tự nhiên rơi vào khoảng 1,420 –
1,430, nhưng trong một số trường hợp hiếm gặp chúng cũng có
thể thấp cỡ 1,370. Tuy nhiên, mở rộng khoảng màu để tính cả
Opal khói (smoky opal) với hiệu ứng lấp lánh màu, O’Donohuge
(2006) đưa ra một giá trị khác là 1,4625 cho Opal Mexico và một
khoảng 1,44 – 1,46 đối với Opal thông thường. Khi đo các trị số
chiết suất nhỏ hơn 1,400 của các vật liệu giống như Opal lửa
nên có sự nghi ngờ.
Khối lượng riêng (Tỷ trọng):
Các mẫu Mexifire có giá trị tỷ trọng trong khoảng 1,63 – 1,77.
Các giá trị này thấp hơn của Opal tổng hợp. Mặc dù Smallwood
(2003) đã ghi nhận có trường hợp tỷ trọng dưới 1,74 đối với
các sản phẩm của Nga; Gunawardence và Mertens (1984) đã đo được
tỷ trọng của nhựa Gilson giả Opal lửa Mexico là 1,91; một vài
loại Opal tổng hợp có tỷ trọng lên đến 2,27 (vd như Kyocera:
Quinn, 2003). Các giá trị tỷ trọng của các viên Opal tự nhiên
đem thí nghiệm thay đổi từ 1,92 đến 2,06. Vì vậy, các giá trị
tỷ trọng thấp hơn rõ so với khoảng giá trị trên là dấu hiệu
tuyệt vời cho thấy đó là Opal nhân tạo. Trong khi đo tỷ trọng,
các mẫu tổng hợp không cho thấy bất cứ dấu hiệu của độ rỗng,
điều này cũng phản ánh chất lượng đánh bóng của chúng.
Tính phân cực:
tất cả các mẫu tổng hợp đều dị hướng mạnh với các dải
giống như con rắn, ngược lại trong đá Opal tự nhiên thì yếu hơn
nhiều và không hiện diện các dải giống con rắn.
Phát quang:
tất cả các mẫu, cả tự nhiên lẫn tổng hợp đều phát quang yếu
đối với tia UV sóng dài và sóng ngắn.
Phổ hấp thu:
tất cả các mẫu tự nhiên lẫn tổng hợp đều không có các đặc
điểm hấp thu nào khi quan sát bằng phổ kế để bàn.
Kính
mời quý độc giả đón xem phần 2 trong bản tin giám định tháng
5/2009 |