|
|
 |
|
“Công ty TNHH Giám Định Rồng Vàng SJC
kính chúc Quý khách hàng
một Xuân Kỷ Sửu và Năm Mới 2009
An khang Thịnh vượng
Phúc lộc tràn đầy và Vạn sự như ý” |
Mica màu
lục (paragonite) ở Pakistan (Bản tin tháng 1&2/2009)
Từ “mica lục” thường
dùng để chỉ các loại mica có màu xanh lá cây như phlogopite hay
muscovite chứa Cr (gọi là “fuchsite”) hay cũng có thể là celadonite hoặc
margarite. Tuy nhiên, Makhamount Douman (công ty Arzawa Mineralogical ở
New York) mới đây đã cho GIA mượn 2 mẫu mica lục xuất xứ Pakistan, mà đã
được chứng minh không phải là một trong số đã nêu. Hai mẫu gồm 1 viên đá
thô (3,33 g) và 1 viên mài cabochon (16,54 ct). Ông Douman cho biết là
chúng có trong đá phiến mica nằm ở vùng cách thành phố Mingora (nổi
tiếng về sản xuất emerald) 160 km về hướng đông bắc.
|
 |
|
Hình 1: Các
mẫu mica màu lục chứa Cr/V này (3,33 g và 16,54 ct) xuất xứ
Pakistan đã được xác định là paragonite. Hình của Robert
Weldon.
|
Khảo sát viên cabochon cho các đặc điểm sau: Đá màu lục phớt xanh vừa;
không xoay màu; chiết suất 1,59; tỷ trọng 2,89; phát huỳnh quang màu
phớt lục ở UV sóng dài và trơ ở sóng ngắn; dưới kính lọc Chelsea đá có
màu hồng; với kính phổ để bàn, đá có đầu hấp thu ở ~410 nm và dãy ở ~600
nm. Các đặc tính vật lý (chiết suất và tỷ trọng) thì phù hợp với
phlogopite và muscovite chứa Cr, nhưng không giống với celadonite hay
margarite (M. E. Fleet, 2003). Những đặc tính cũng phù hợp với những gì
mà Fleet đã công bố về paragonite –NaAl2[AlSi3O10](OH)2.
Vật liệu ấy thường không màu đến vàng nhạt, nhưng paragonite màu đỏ phớt
tím cũng đã được đề cập (Gem News, mùa Thu 1993). Khảo sát phóng đại 2
mẫu thấy cấu trúc hạt, trong đó mẫu đá thô có sự mọc xen với một số vật
liệu hơi trắng (hình 1).
Phân tích phổ Raman
từ hai mẫu đá thô và cabochon cho thấy chúng rất phù hợp với khoáng
paragonite trong cơ sở dữ liệu RRUFF và cũng phù hợp với phổ paragonite
do A. Tlili công bố, 1989. Phổ này không giống với phlogopite,
muscovite, margarite hay celadonite. Phổ cũng xác định được vật liệu màu
trắng trên mẫu thô là plagioclase natri.
Phân tích EDXRF
(Huỳnh quang Tia X Phân tán Năng lượng) hai mẫu cho thấy các nguyên tố
chính là Na, Al, Si và K; một lượng nhỏ Ca, Fe và Sr; lượng nhỏ hay vết
của Ti, V, Cr, Ga, Rb, Ba và Pb. Phân tích LA-ICP-MS (Phổ khối lượng -
Plasma kép cảm ứng – Bắn la-de) viên đá thô khẳng định sự hiện diện các
nguyên tố này và cũng phát hiện thêm Li (không phát hiện được bởi
EDXRF), Mg (hàm lượng nhỏ hơn giới hạn phát hiện của EDXRF) và vết của
vài nguyên tố phụ. Hàm lượng các nguyên tố cho thấy paragonite là thành
phần chính, thành phần còn lại là feldspar do phát hiện nhiều K và Al.
Phân tích bằng XRD (Nhiễu xạ Tia X) cũng xác định là paragonite.
Theo ông Douman,
mica lục này có được là từ sự khám phá biệt lập, khai thác theo mùa, mỗi
tháng sản xuất khoảng 20-30 kg đá thô đủ loại chất lượng; sự sản xuất
rất hạn chế do điều khiện ngặt nghèo và ở nơi xa xôi. Các mẫu chất lượng
quý từ 3-20 g. (Theo Karen M. Chadwick và Andy H. Shen, GemNews Hè
2008) |