Giới thiệu
Kim cương
Đá màu
Vàng và kim loại quý
Dịch vụ
Thông tin khoa học và nghiên cứu
Tin nóng
Bản tin hàng tháng
Các phát minh và nghiên cứu về đá trên thế giới
Bộ sưu tập ảnh.
Thiết bị giám định
Hỏi và đáp
Bản tin hàng tháng
Lawsonite ở Hạt Marin California

Lawsonite ở Hạt Marin California (Bản tin tháng 12/2008)

 

Khoáng lawsonite [CaAl2Si2O7(OH)2.(H2O)] được phát hiện lần đầu vào năm 1895 ở Tiburon Peninsula thuộc Hạt Marin California. Nó được đặt tên để vinh danh giáo sư C. Lawson ở Đại học California tại Berkeley. Lawsonite có trong các đá biến chất nhiệt độ thấp, áp suất cao trong các đới cắm sâu; đá có đặc điểm là đục, dễ vỡ và chứa nhiều tạp chất. Ở hội chợ đá Tucson 2008, Steve Perry ở công ty Steve Perry Gems (tại Davis California) đã cho chúng tôi xem nhiều mẫu đá lawsonite từ trong mờ đến bán trong. Ông lấy các đá này từ một bộ sưu tập khoáng vật cũ mà ông vừa mới mua được, gồm 320 kg mẫu đá lawsonite do một thợ cơ khí xây dựng cầu đường ở Tiburon Peninsula thu thập. Mặc dù không biết thời điểm thu thập các mẫu, nhưng giấy báo gói chúng được in năm 1953.   

 

Hình 10: Các viên lawsonite mài giác này (0,09-0,18 ct) là từ Hạt Marin California, được chọn để cho thấy các màu ở vật liệu này. Hình của Kevin Schumacher.

Hình 11: Viên cabochon lawsonite 0,43 ct này có hiệu ứng mắt mèo. Hình của Robert Weldon.

 















Theo ông Perry, các mẫu gồm một nền đá phiến glaucophane có các hốc nhỏ chứa các tinh thể lawsonite, pyrit và kim rutin. Trong nền đá phiến còn có các khoáng khác như garnet nâu, chlorite và sphen đục. Từ một sưu tập các tinh thể lawsonite bể, ông Perry đã mài được 11 ct đá mài giác và 110 ct cabochon. Trong đó, khoảng 80% là màu hồng đào, 15% xanh phớt xám và 5% gần không màu; dưới 5% đá cabochon có hiệu ứng mắt mèo. Tổng thể, hầu hết  vật liệu thô đều trong mờ đến đục, số còn lại chưa tới 0,1% có chất lượng mài giác. Viên mài giác trong suốt lớn nhất chỉ nặng 0,40 ct.

Ông Perry đã cho GIA mượn vài mẫu đá lawsonite thô và  thành phẩm (5 viên mài giác và 1 viên cabochon mắt mèo, từ 0,09 đến 0,43 ct, hình 10 và 11) để kiểm tra. Các đặc điểm ngọc học thu được từ các viên mài giác: màu hồng nhạt, hay gần không màu đến xanh phớt xám; xoay màu mạnh, gồm màu hồng nhạt và gần không màu hay là xanh và gần không màu; chiết suất 1,664-1,687; lưỡng chiết suất 0,023; tỷ trọng 3,08-3,30; trơ với tia cực tím ở cả hai sóng dài và ngắn. Các đặc điểm này phù hợp với đá lawsonite mà R. Webster, 1994, đã đề cập. Dưới phóng đại, tất cả các mẫu lawsonite có chứa nhiều tinh thể, mây, khe nứt và vân tay. Cũng thấy có các mặt cát khai rõ. Một ít mẫu có các vùng bị mẻ và hốc, là do đá dễ bị vỡ. Đo phổ hấp thu UV-Vis, chỉ thấy một dãy rộng có tâm ở 450 nm. Cần phải đo những phổ khác và phân tích hóa mới có thể tìm được nguyên nhân tạo màu ở những đá này.

Đây là lần đầu tiên, Phòng lab của GIA mới nhìn thấy được các đá lawsonite mài thành phẩm này. Như vậy lawsonite cũng là một đá rất ít được dùng trong nữ trang vì chúng nhỏ đục và dễ vỡ khi mài giác.  (Theo kevin G. Nagle, GemNews Hè 2008)

Bản in
Phản hồi
Gửi tới
Các tin khác:
Xử lý màu sắc (Bức xạ) (Bản tin tháng 08/2008)
Xử lý màu sắc (Sơn và Phủ) (Bản tin tháng 08/2008)
Chuyên đề về LỊCH SỬ XỬ LÝ KIM CƯƠNG (Bản tin tháng 08/2008)
Đá Quý Có Cấu Trúc Căm Xe (Trapiche pattern) (Bản tin tháng 04/2008)
Sự sáng tạo không ngừng trong chế tác nữ trang (Bản tin tháng 01 & 02/2008)
Beryl màu cam ở Ấn Độ (Bản tin tháng 12/2008)
Đá clinochlore giàu crôm (kämmererite) ở Thổ Nhĩ Kỳ (Bản tin tháng 12/2008)
Đá danburite vàng ở Tanzania (Bản tin tháng 12/2008)
Kim cương “Forevermark” của De Beers (Bản tin tháng 12/2008)
Đá nhân tạo phát sáng gây thú vị (Bản tin tháng 11/2008)
|1| |2| |3| |4| |5| |6| Trang tiếp
Trang chủ Giới thiệu Sơ đồ site Liên hệ
Designed by  CanhCam Co., Ltd.