Giới thiệu
Kim cương
Đá màu
Vàng và kim loại quý
Dịch vụ
Thông tin khoa học và nghiên cứu
Tin nóng
Bản tin hàng tháng
Các phát minh và nghiên cứu về đá trên thế giới
Bộ sưu tập ảnh.
Thiết bị giám định
Hỏi và đáp
Bản tin hàng tháng
Đá clinochlore giàu crôm

Đá clinochlore giàu crôm (kämmererite) ở Thổ Nhĩ Kỳ (Bản tin tháng 12/2008)

 

Clinochlore – (Mg,Fe2+)5Al(Si3Al)O10(OH)8 – là thành viên của nhóm đá chlorite. Tên đá có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm chữ klino (nghĩa là “nghiêng”), nói về hình dạng tinh thể đơn nghiêng của nó, ghép với chữ chloros (nghĩa là “màu lục”), liên quan đến màu phổ biến của nó (J. W. Anthony, 1995). Các màu của clinochlore đã được đề cập trong những tài liệu khác gồm vàng, trắng, đỏ đến đỏ tím là loại giàu crôm thường được gọi là kämmererite. Vì clinochlore có độ cứng quá thấp (2-2,5) và dễ cát khai nên nó không phù hợp dùng làm đá quý nữ trang, nhưng các tinh thể của nó có thể được mua để làm bộ sưu tập mẫu hiếm.

 

Hình 5: Clinochlore giàu Cr thường được gọi là   kämmererite, hiếm khi thấy ở dạng mài giác như trong hình (2 viên 0,92 và 0,52 ct). Hình của Robert Weldon.    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mới đây, Alexandra Woodmansee ở công ty Rock Logic (Glencoe, Minnesota) cho GIA mượn 2 mẫu mài giác (một viên ovan 0,92 ct và viên chữ nhật vạt góc 0,52 ct, xem hình 5) của đá clinochlore xuất xứ từ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khi các đá clinochlore giàu Cr đã được đề cập ở Mỹ (Calofornia, Bắc Carolina, Pennsylvania) và ở Nga (núi Ural), còn nguồn nổi tiếng nhất thì lại ở núi Kop phía đông Thổ Nhĩ Kỳ.

Khảo sát hai viên đá cho các đặc tính sau: màu đỏ phớt tím sẫm vừa; chiết suất 1,588-1,580; tỷ trọng 2,65-2,67; không phản ứng với cả hai tia UV sóng dài và ngắn; dưới kính Chelsea có màu hồng; dãy hấp thu dưới 440 nm và từ 500-590 nm ở kính phổ để bàn. Khảo sát dưới phóng đại thấy nhiều khe nứt và cát khai, các bao thể tinh thể, kim, mây. Bề mặt hai viên đá biểu hiện độ bóng thấp, nhiều trầy sướt và rãnh do độ cứng thấp.

Các đặc tính vật lý này phù hợp với đá clinochlore giàu Cr được mô tả bởi M. O’Donoghue, 2006, chỉ hơi khác về tỷ trọng, theo O’Donoghue là 2,60-2,64. Phổ Raman ở 2 mẫu khẳng định chúng là kämmererite.

 Theo bà Woodmansee thì hai viên đá này được mài từ các đá thô tồn kho. Theo bà, viên đá thành phẩm 0,92 ct là mẫu mài giác lớn nhất mà bà biết được, còn hầu hết đá thô thì nhỏ và không thể mài giác được. Vì mỏ đá này ở Thổ Nhĩ Kỳ đã đóng cửa vào năm 1991 do đá có giá bán quá thấp, nên những viên mài giác này chắc chắn thuộc loại cực hiếm. (Theo Karen M. Chadwick, GemNews Hè 2008)

Bản in
Phản hồi
Gửi tới
Các tin khác:
Xử lý màu sắc (Bức xạ) (Bản tin tháng 08/2008)
Xử lý màu sắc (Sơn và Phủ) (Bản tin tháng 08/2008)
Chuyên đề về LỊCH SỬ XỬ LÝ KIM CƯƠNG (Bản tin tháng 08/2008)
Đá Quý Có Cấu Trúc Căm Xe (Trapiche pattern) (Bản tin tháng 04/2008)
Sự sáng tạo không ngừng trong chế tác nữ trang (Bản tin tháng 01 & 02/2008)
Beryl màu cam ở Ấn Độ (Bản tin tháng 12/2008)
Đá danburite vàng ở Tanzania (Bản tin tháng 12/2008)
Lawsonite ở Hạt Marin California (Bản tin tháng 12/2008)
Kim cương “Forevermark” của De Beers (Bản tin tháng 12/2008)
Đá nhân tạo phát sáng gây thú vị (Bản tin tháng 11/2008)
|1| |2| |3| |4| |5| |6| Trang tiếp
Trang chủ Giới thiệu Sơ đồ site Liên hệ
Designed by  CanhCam Co., Ltd.