Giới thiệu
Kim cương
Đá màu
Vàng và kim loại quý
Dịch vụ
Thông tin khoa học và nghiên cứu
Tin nóng
Bản tin hàng tháng
Các phát minh và nghiên cứu về đá trên thế giới
Bộ sưu tập ảnh.
Thiết bị giám định
Hỏi và đáp
Bản tin hàng tháng
Almandine-spessartine từ Lindi n

Almandine-spessartine từ Lindi nước Tanzania

 

Hình 14: Tỉnh Lindi, nước Tanzania được cho là nguồn của các mẫu đá almandine-spessartine này. Chúng thuộc bộ sưu tập của GIA, viên 37613 (đá mài, 1,35 ct) và viên 3762 (tinh thể, 0,5 g). Hình của Robert Weldon.   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Ở triển lãm đá quý Tucson 2008, Steve Ulatowski (thuộc công  ty New Era Gems, ở Grass Valley California) có trưng bày một số tinh thể tự hình đẹp của một loại garnet màu cam-đỏ mới phát hiện ở Tanzania. Chúng được khai thác từ tỉnh Lindi, nơi này không xa nguồn đá pyrope-spessartite “Vua” màu hồng đã được mô tả ở Gem News số mùa xuân 2006. Ông Ulatowski lần đầu có được các đá này vào tháng 1/2007, dự đoán nơi này mỗi tháng khai thác được khoảng 1-3 kg đá thô chất lượng hỗn hợp. Các tinh thể rất tự hình nhưng lại hơi nhỏ, khi cắt mài xong chỉ đạt trung bình cỡ <0,50 ct.

Ông đã tặng cho GIA một tinh thể và một viên garnet mài tròn 1,35 ct (hình 14). Các đặc điểm ngọc học của viên đã cắt mài: màu cam-đỏ; trong suốt; chiết suất 1,800; tỷ trọng 4,17; với kính Chelsea thấy đá có màu đỏ; đá trơ với cả hai cực tím sóng dài và ngắn. Với kính phổ để bàn, đá cho các vạch hấp thu yếu ở 480 và 520 nm; vạch mạnh ở 460, 505 và 565 nm; hấp thu hoàn toàn đến 440 nm. Dưới phóng đại thấy các bao thể đầu kim, các kim ngắn, các sọc tăng trưởng thẳng và trong suốt. Phổ EDXRF (Phát huỳnh quang tia X phân tán năng lượng) cho thấy các lượng chính của Si, Al, Mn, Fe và một lượng nhỏ của Mg, Ca.

Các tính chất vật lý và hóa học trên xác định garnet này là loại almandine-spessartine, có một lượng nhỏ hợp phần của pyrope và grossular. Chiết suất và tỷ trọng của các đá này hơi thấp hơn đá almandine-spessartine đã được mô tả bởi C. M. Stockton và D. V. Manson, 1985. Sự khác biệt này có thể là do đá có chứa một chút thành phần của pyrope và/hay grossular. (Theo Elizabeth Quin Darenius và Brendan M. Laurs, GemNews Hè 2008).

Bản in
Phản hồi
Gửi tới
Các tin khác:
Xử lý màu sắc (Bức xạ) (Bản tin tháng 08/2008)
Xử lý màu sắc (Sơn và Phủ) (Bản tin tháng 08/2008)
Chuyên đề về LỊCH SỬ XỬ LÝ KIM CƯƠNG (Bản tin tháng 08/2008)
Đá Quý Có Cấu Trúc Căm Xe (Trapiche pattern) (Bản tin tháng 04/2008)
Sự sáng tạo không ngừng trong chế tác nữ trang (Bản tin tháng 01 & 02/2008)
Beryl màu cam ở Ấn Độ (Bản tin tháng 12/2008)
Đá clinochlore giàu crôm (kämmererite) ở Thổ Nhĩ Kỳ (Bản tin tháng 12/2008)
Đá danburite vàng ở Tanzania (Bản tin tháng 12/2008)
Lawsonite ở Hạt Marin California (Bản tin tháng 12/2008)
Kim cương “Forevermark” của De Beers (Bản tin tháng 12/2008)
|1| |2| |3| |4| |5| |6| Trang tiếp
Trang chủ Giới thiệu Sơ đồ site Liên hệ
Designed by  CanhCam Co., Ltd.