|
Fenpat
plagiocla có màu lục-xanh có thể là do đồng
Fenpat kali màu xanh
đến lục được biết với tên thương mại là amazonit, có màu là do sự phối
hợp của bức xạ tự nhiên và hàm lượng vết của chì và nước (A. M.
Hofmeister, 1985). Phòng thí nghiệm GIA ở Carlbad California mới nhận
giám định 2 viên đá đục, màu lục phớt xanh (hình 10), có kích thước
46,90 x 35,18 x 21,38 mm và 45,38 x 24,05 x 21,69 mm, mà theo quan sát
ban đầu, chúng có vẻ giống amazonit. Tuy nhiên, khảo sát kỹ hơn, đá
không có kiểu màu dạng đốm mạng lưới được tạo ra bởi sự mọc xen của
microclin và anbit, tiêu biểu cho đá amazonit. Thay vào đó là kiểu cấu
trúc khối khá đồng nhất.
|
 |
|
Hình 10:
Phân tích hóa 2 mẫu đá fenpat plagiocla màu lục phớt xanh này
(chiều dài nhất 45,38 và 46,90 mm) cho biết màu được tạo ra là
do nguyên tố đồng. |
Lớp bên ngoài là vỏ
màu phớt nâu, bên dưới là các lớp và mạch nhỏ của vật liệu màu lục phớt
xanh đậm hơn. Chiết suất đo được là 1,54, có thể thuộc đá fenpat
plagiocla (oligocla). Phép đo phổ LA-ICP-MS (Phổ khối lượng - Plasma kép
cảm ứng – Bắn la-de) và Phân tích EMPA (Phân tích hiển vi điện tử) khẳng
định thành phần hóa học rơi vào dãy anbit-oligocla. Phát hiện rất ít
kali, cũng không thấy nhiều chì (< 4 ppm – phần triệu). Trái lại, các
phân tích cho thấy lượng đồng cao (lên đến khoảng 12.000 ppm). Phải giữ
hết sức cẩn thận lúc phân tích để chắc chắn là không có bất kỳ khoáng
vật lộ bề mặt nào bị nhầm là fenpat.
Khách hàng Daniel
Anderson cho chúng tôi mượn thêm vài mẫu đá thô nữa để kiểm tra, chính
những mẫu này đã góp phần khẳng định những phân tích và khảo sát của
chúng tôi trước đó. Ông Anderson có dự định mài fenpat plagiocla này và
sắp tới sẽ đưa ra thị trường. Ông ấy cho biết đá quý này nằm trong các
đá pecmatit bị biến đổi, có tuổi Jura (khoảng 150-200 triệu năm) ở phía
bắc bang Nevada. Các kiểm tra tiếp theo đang được thực hiện để xác định
xem đồng có đóng vai trò tạo màu không.
Thật lạ khi gặp
fenpat có màu lục phớt xanh rõ như thế vậy mà không phải là loại fenpat
kiềm (kali) được tạo màu bởi chì. (Theo Aletheo Inns và Christopher
M. Breeding, Lab Notes 2008) |