|
CÁCH PHÁT
HIỆN KIỂU XỬ LÝ MÀU Ở TOPAZ
(Tác giả Harald Gabash,
Frederik Khauser, Erminald Bertel và Thomas Rauch)
Topaz xử lý bề mặt
đã có thể thay thế topaz tạo màu do bức xạ. Không như bức xạ là tạo màu
trên cả viên đá, sự tạo màu bằng biến đổi hóa học chỉ giới hạn ở vùng
gần bề mặt. Kỹ thuật xử lý đã được xây dựng tốt, nhưng ít được biết làm
cách nào để tạo ra được màu mong muốn. Trong nghiên cứu này, phổ học
XPS (tách điện tử bằng tia X) kết hợp với mặt cắt độ sâu
bắn tia đã chứng minh thành công việc đặc trưng hóa hai cơ chế tạo
màu khác nhau cơ bản của topaz xử lý hóa học: phủ màu và tạo
màu khuếch tán ở topaz.
Topaz [Al2SiO4(F,OH)2]
hiện diện ở dạng khoáng vật phụ trong một số đá granit và đá biến đổi
nhiệt dịch cộng sinh, cũng như trong đá pegmatit, rhyolit và những đá
chứa nhôm khác. Tuy nhiên topaz khai thác được thì thường không màu, do
đó chúng cần được tạo màu để dùng trong nữ trang.
|
 |
|
Hình 10: 3
viên topaz xử lý màu này đã được phân tích trong nghiên cứu này:
viên phủ màu hồng (trái), viên khuếch tán màu xanh nhạt (giữa)
và viên khuếch tán màu lục nhạt (phải). Mỗi viên nặng 0,42 ct.
Hình của Tiroler Repro Druck.
|
Một phương pháp phổ biến được dùng để tạo màu bên trong topaz là bức xạ
đá và rồi nung luyện nhiệt độ thấp. Rất tiếc, phương pháp này có thể tạo
ra tính phóng xạ vì vậy cần phải cất giữ an toàn các đá (có khi hơn 1
năm) cho đến khi tính phóng xạ của chúng phân rã xuống thấp hơn giới hạn
cho phép. Tuy nhiên, những rủi ro tiềm tàng do các đá topaz xử lý màu
còn tính phóng xạ có thể thâm nhập thị trường gây ra mà không ai biết
được.
Để giải quyết những
quan tâm này, hai phương pháp cải thiện màu không có bức xạ đã phát
triển thành công. Một là phủ màu, thứ hai là tạo màu
khuếch tán một lớp gần bề mặt đá chủ.
Xử lý phủ màu topaz.
Độ vững bền nhiệt và hóa học của lớp phủ phụ thuộc vào thành phần của nó
và độc lập với đá nền. Lớp phủ còn đóng vai trò là lớp bảo vệ. Tuy
nhiên, cũng giống như tất cả các đá bị phủ khác, sự khác biệt về các đặc
điểm vật lý giữa đá gốc và lớp phủ là nguyên nhân của những hạn chế
chính. Sự khác biệt trong hệ số giãn nở nhiệt có thể gây ra những biến
dạng nghiêm trọng ở mặt tiếp xúc khi đá quý chịu đựng thay đổi nhiệt độ
nhanh, vì vậy lớp phủ có thể bị bong ra. Ngoài ra, sự thay đổi lớn về
chiết suất giữa lớp phủ và đá quý tạo nên những hiệu ứng giao thoa theo
góc trong ánh sáng thấy được (400-700 nm), làm cho đá có dáng vẻ nhân
tạo (hình 10 trái).
Xử lý khuếch tán topaz.
Màu xử lý thì bền hơn nhiều (hình 10, giữa và phải). Mặc dù vùng bề mặt
bị thay đổi do các ion xâm nhập, các đặc điểm liên quan có vẻ gần giống
với topaz tự nhiên hơn. Biến dạng do nhiệt hoặc các hiệu ứng giao thoa
không còn nữa. Đá quý không thể bị bong ra và có vẻ tự nhiên hơn đối với
mắt thường.
Cơ sở khoa học.
Tạo màu ở một số đá quý có thể thực hiện được mà không cần bức xạ bằng
cách đưa các ion kim loại chuyển tiếp vào bên trong mạng tinh thể. Màu
tạo ra (hình 10) không chỉ phụ thuộc nguyên tố đưa vào, mà còn phụ thuộc
rất nhiều vào hóa trị của nguyên tố ấy và sự đối xứng của các nguyên tử
đá chủ nằm kề bên, cũng như thành phần hóa học của đá topaz.
|
 |
|
Hình 11: Sơ
đồ mặt cắt hàm lượng của xử lý phủ màu và xử lý khuếch tán. Trục
đứng chỉ hàm lượng chất tạo màu; trục ngang chỉ độ sâu viên đá,
về phía trái là bề mặt đá. Hình của tác giả. |
Như đề cập bên trên,
có hai khả năng giúp tạo màu đá quý bằng các kim loại chuyển tiếp. Trong
phương pháp phủ màu (hình 11, trái), một màn mỏng tích tụ trên bề
mặt đá quý và có một mặt tiếp xúc rõ ràng, dày chỉ vài nano mét,
nhỏ hơn nhiều so với bước sóng của ánh sáng thấy được. Hiệu ứng màu ở đá
xử lý tạo ra từ chính lớp phủ và phụ thuộc thành phần lớp phủ, không
liên quan với thành phần đá gốc.
Trong phương pháp
khuếch tán (hình 11, phải), chất tạo màu đi xuyên qua bề mặt đá.
Điều này có thể đạt được khi bao vật liệu xử lý xung quanh viên đá và kế
đó là xử lý nhiệt. Kết quả là các thành phần khác nhau thâm nhập vào các
lớp nguyên tử sâu hơn và thành phần nguyên tố của bề mặt thay đổi.
Phương pháp khuếch tán làm mở rộng đáng kể vùng tiếp xúc. Nhưng
thực tế là do phụ thuộc vào nhiều thông số quá trình, nên có thể khó xác
định vùng tiếp xúc. Thay vào đó, có sự biến đổi hàm lượng phức tạp và
dao động xảy ra từ bề mặt cho đến bên trong đá quý. Vật liệu đặt trên bề
mặt topaz (đó là coban, crôm hay đồng) tự nó không tạo ra màu cuối cùng;
mà chúng lại tương tác với các thành phần hóa học của đá chủ để tạo ra
màu mong muốn.
Phương pháp giám định.
Để có thể phân biệt hai phương pháp xử lý trên đá quý trên chúng tôi
dùng XPS (Phổ học tách điện tử bằng tia X) để nghiên cứu 3 viên
topaz cắt giác công chúa, mỗi viên nặng 0,42 ct: viên màu hồng, viên màu
xanh nhạt và viên màu lục nhạt (hình 10). Cả 3 viên lúc đầu là topaz
không màu và được chọn làm đại diện nhóm sản phẩm của công ty
D.Swarovski & Co.
Màu xử lý của viên
topaz hồng là do trộn vàng trong SiO2. Màu của viên màu xanh
là do đặt topaz không màu trong môi trường chứa coban (bột oxid coban)
và sau đó là nung luyện cỡ 1000oC trong 3 giờ (Pollack,
1997). Cũng phương pháp này áp dụng cho viên màu lục với phụ gia là
crôm.
XPS cho một phân
tích định lượng và chi tiết về thành phần nguyên tố ở ngay trên và bên
dưới bề mặt đá quý. Khi kết hợp với sự ăn mòn ion argon, độ nhạy bề mặt
của XPS có thể tạo ra các mặt cắt hàm lượng (còn gọi là mặt
cắt độ sâu) với mức phân giải độ sâu cao. XPS không chỉ phát hiện
hàm lượng các nguyên tố mà nó còn cho thấy sự thay đổi trạng thái hóa
trị (nghĩa là tình trạng oxi hóa ứng với độ sâu).
Topaz phủ màu hồng.
Phát hiện SiO2 ở suốt vùng bề mặt. Ở độ sâu khoảng 200 nm,
vàng nổi bật lên nhưng rồi nó biến mất sau chu kỳ bắn phá kế tiếp (280
nm). Ở độ sâu khoảng 350 nm, thành phần thay đổi lạ lùng: Tính hiệu Si
giảm xuống, Al trở thành chủ yếu, và fluorit từ 0 tăng lên 12 at.% (%
nguyên tử).
|
 |
|
Hình 12: Mặt
cắt độ sâu XPS ở đá phủ màu hồng, chất phủ chính là Si và Au. Bề
dày lớp phủ khoảng 350 nm. Mặt tiếp xúc khoảng 350-400 nm. Hình
của các tác giả.
|
Từ độ sâu 400 nm trở
lên, thành phần vẫn giữ nguyên – giống với topaz không màu. Trong phạm
vi độ chính xác thí nghiệm, chúng tôi có thể cho rằng không có sự khuếch
tán qua lại nào xảy ra giữa lớp SiO2 chứa vàng (hiện diện ở
độ sâu khoảng 200 nm) và đá topaz (thành phần của đá topaz bắt đầu xuất
hiện ở độ sâu 350 nm). Tín hiệu XPS của vàng không phủ lên bất kỳ thành
phần chính nào (Al, F) và chúng tôi phát hiện không có tín hiệu khuếch
tán nào của Al vào trong lớp SiO2. Mặt tiếp xúc đã xác định ở
độ sâu giữa 350 nm và 400 nm.
Topaz khuếch tán màu xanh
nhạt.
Xem hình 13, không
giống lớp phủ ở viên topaz xử lý hồng, vùng sát bề mặt (0-70 nm) của
viên topaz xử lý màu xanh này cho thấy sự làm giàu xen kẻ của Si và Al.
Một màn mỏng bền nhất hình thành từ đó, đây là lớp giàu Si. Vì vậy lớp
nằm ngay dưới bề mặt thì hơi thiếu Si và lại cho thấy sự giàu lên tương
ứng của Al và Co. Trong mẫu này, Co đạt đến hàm lượng cao nhất ở độ sâu
80 nm.
|
 |
 |
|
Hình 13: Mặt
cắt độ sâu XPS ở đá khuếch tán màu xanh. Chất khuếch tán là
coban, phạm vi khuếch tán khoảng 200-300 nm. Hình của các tác
giả. |
Hình 14:
Mặt cắt độ sâu XPS ở đá khuếch tán màu lục. Chất khuếch tán là
coban và crôm, phạm vi khuếch tán khoảng 100-200 nm. Hình của
các tác giả. |
Từ độ sâu cỡ 80 đến 200 nm, lượng Co giảm hẳn, trong khi đó lượng Si và
Al đạt gần mức của thành phần chính của topaz. Đối với F (fluo), vùng
sát bề mặt nó không hiện diện vì bị bay hơi do nhiệt, vào sâu hơn thì
hàm lượng tăng lên dần cho đến khi bằng giá trị ở đá gốc. Vì vậy, có
thể dùng F làm nguyên tố vết chỉ thị thành phần chính đá topaz.
Từ những khảo sát
này, chúng tôi kết luận là khuếch tán coban vào trong topaz là điều kiện
cần thiết để tạo màu xanh mong muốn và chỉ có vùng tiếp xúc chứ không có
bất kỳ mặt tiếp xúc nào.
Topaz khuếch tán màu lục
nhạt. Viên đá
này được xử lý cùng phương pháp với viên topaz khuếch tán màu xanh. Khác
duy nhất là chất khuếch tán tạo màu lục ngoài coban còn có thêm crôm.
Mức độ thâm nhập vào trong đá của 2 nguyên tố này có vẻ không sâu bằng
coban ở viên màu xanh. Chúng đạt mức tối đa ở độ sâu khoảng 30 nm, sau
đó giảm nhanh và đến khoảng 120 nm thì gần như có rất ít. Lớp có màu lục
chỉ dày khoảng 100 nm.
Hành vi của các
nguyên tố chính tạo đá topaz là Al, Si và F gần tương tự như viên màu
xanh. Ở mức sâu 200 nm thì chúng gần như trở lại giá trị đá topaz gốc
(xem hình 14). |